CHƯƠNG II : NHÀ QUẢN TRỊ
Bài 3: Đặng Lê Nguyên Vũ – Tôi chiến đấu vì thương hiệu Việt
Câu 1: Đặng
Lê Nguyên Vũ đã thể hiện những phẩm chất nhà quản trị đáng để học tập:
Phẩm chất
đầu tiên và đáng nói nhất là và tình yêu dân tộc nồng nàn: “Tôi chiến đấu vì
thương hiệu Việt”. Đặng Lê Nguyên Vũ có trách nhiệm xã hội cao, ông đã tự tạo
việc làm cho gần 15.000 nhân công.
Đặng Lê
Nguyên Vũ mang trong mình tâm huyết và lòng đam mê với công việc. Ông quyết tâm
theo đuổi đam mê của mình, kiên trì thực hiện ước mơ của mình. Và khi thành
công, ông không hề tự mãn rồi dừng ở đó, mà ông tiếp tục sáng tạo và phát
triển.
Đặng Lê
Nguyên Vũ – một nhà quản trị đầy bản lĩnh, ông dám nghĩ dám làm, và đầy tham
vọng. Ông quyết tâm chiến đấu với đối thủ cạnh tranh bên ngoài. Tự tin, táo
bạo, có thể là phẩm chất cũng như phong thái của Đặng Lê Nguyên Vũ khiến người
khác khâm phục và thế hệ trẻ đáng học hỏi.
Câu 2: Thế
hệ nhà quản trị trẻ Việt Nam hiện nay:
Qua nhìn
nhận thực tế, nhà quản trị trẻ Việt Nam hiện nay thành công như Đặng Lê Nguyên
Vũ không phải là ít, nhưng sự thành công thực sự trên chính bàn tay và thực lực
của mình như Đặng Lê Nguyên Vũ quả thực không phải là nhiều. Đa phần họ thành
công nhờ vào họ đã có một tiền đề tốt cho mình từ ban đầu. Và cái mà nhà quản
trị trẻ Việt Nam hiện nay còn thiếu chính là: Tham vọng, táo bạo, dám nghĩ dám
làm và hơn hết là sự tự tin. Nhà quản trị trẻ Việt Nam thật sự họ chưa dám
nghĩ, chưa dám mơ ước lớn, mà nếu có thì họ cũng chưa dám thực hiện những gì họ
đã nghĩ.
“Lợi thế
so sánh” là những gì họ có, ở đây đó chính là sự nhìn nhận thế giới một cách
nhanh nhạy, nắm bắt tri thức mới của thế giới nhanh chóng. Nhà quản trị trẻ đã
biết nắm bắt cơ hội trước mắt, đó là những gì họ hơn hẳn những nhà quản trị đi
trước của Việt Nam. Bên cạnh đó còn có sự đa dạng của các nguồn thông tin, sức
mạnh hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay và sự giao lưu của nhiều nền kinh tế
tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà quản trị. Trong thời kì hội nhập, hầu
hết các hàng rào thuế quan đã được xoa bỏ thay vào đó là những hiệp ước kinh tế
quốc tế, thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư lớn, hàng lang pháp lí thông
thoáng hơn, ngày càng có nhiều chính sách thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi
cho đầu tư phát triển.
Lợi thế so
sánh của nhà quản trị trẻ Việt Nam so với các nhà quản trị bên ngoài chính là
nắm bắt cơ hội một cách nhanh nhạy, có một môi trường chính trị ổn định. Cái mà
chúng ta thua các nhà quản trị bên ngoài đó chính là chủ động tự tạo cơ hội cho
chính mình.
Đặng Lê
Nguyên Vũ là một trong số ít nhà lãnh đạo trẻ Việt Nam có được đầy đủ các tố
chất mà nhà quản trị trẻ Việt Nam cần có.
Câu 3: Để
trở thành “Nhà quản trị” thành công trong tương lai, chính bản thân chúng
em là những sinh viên trẻ đang ngồi trên ghế giảng đường cần tích lũy các hành
trang:
Kiến thức
về quản trị: Chính là những kiến thức mà bản thân sinh viên được học trên giảng
đường; chính là những kinh nghiệm thực tế mà bản thân tích lũy, trải nghiệm,
thực hành và học hỏi ngoài thực tế khi còn đang đi học.
Hình thành
và rèn luyện tố chất quản trị cho mình: Đó là rèn luyện tính nhanh nhạy, tự
tin, sáng tạo, rèn luyện sự bình tĩnh, kiên định từ quá trình học tập và thực
tập.
Sống phải
biết mơ ước lớn, dám nghĩ dám làm, hình thành con người có tham vọng và quyết
tâm đạt được ước mơ. Vì vậy cần có ước mơ ngay từ bây giờ.
Sống biết
tiếp thu, linh động nghĩa tư duy, hướng phát triển: đó là hành trang về hội
nhập thế giới.
Sống có
niềm tin và được tin tưởng: rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, biết dẫn dắt người khác
và làm người khác tin tưởng.
Đó là
những hành trang ngay từ bây giờ bản thân cần tích lũy và rèn luyện.
Bài 4. Phong cách quản trị
Câu 1. Đánh
giá nhận xét về hai phong cách quản trị của Trọng và Bình.
Phong cách quản trị của Trọng:
Đặc điểm phong cách quản trị:
Trọng thiên về sử dụng
mệnh lệnh (trong cương vị mới anh ta cảm thấy mình có nhiều quyền lực, anh quát
nạt, ra lệnh và đòi hỏi mọi người phải tuân phục).
Trọng luôn đòi hỏi mọi
nhân viên cấp dưới phải phục tùng tuyệt đối (mặc dù các nhân viên trong phòng
đều là những người thông minh và có kinh nghiệm nhưng Trọng ít khi quan tâm đến
ý kiến của họ)
Trọng thường dựa vào năng
lực, kinh nghiệm, uy tín, chức vụ của mình để tự đề ra các quyết định rồi buộc
cấp dưới phải làm theo ý muốn hay quyết định của mình (Trọng luôn tự tin vào
năng lực của mình và anh thực sợ khó chịu khi ai đó góp ý cho mình. Trọng muốn
nhân viên của mình phải thực hiện mọi yêu cầu của anh, không bàn cãi gì hết).
Ưu điểm phong cách quản trị của
Trọng:
Trọng là người có tính
quyết đoán cao và dứt khoát khi đưa ra các quyết định quản trị. Nó sẽ giúp cho
qnh giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng
Trọng dám chịu trách
nhiệm cá nhân về các quyết định của mình do vậy sẽ phát huy được đầy đủ các năng
lực và phẩm chất doanh nhân tốt đẹp của bản thân.
Nhược điểm phong cách quản trị của
Trọng:
Nếu Trọng mắc sai lầm
trong quyết định nào đó thì sẽ không thể sửa được bởi nhân viên dưới quyền của
Trọng nếu biết thì cũng không dám nói và vì nhân viên của Trọng không được phép
tự thay đổi các quyết định.
Trọng đã làm mất dần tính
sáng tạo của các thành viên trong phòng, không thừa nhận trí tuệ của các nhân
viên dưới quyền.
Từ những đánh giá nhận
xét trên, ta nhận thấy phong cách quản trị của Trọng thuộc phong cách quản trị
chuyên quyền.
Phong cách quản trị của Bình
Đặc điểm phong cách quản trị của Bình
Bình sử dụng rất ít quyền
lực của mình để tác đông đến nhân viên dưới quyền (vì với anh được mọi người
yêu mến là quan trọng hơn cả. Anh không bao giờ tỏ ra mình là sếp).
Bình phân tán quyền hạn
cho cấp dưới, để cho cấp dưới độc lập và tự quyết định (anh cho phép nhân viên
làm việc theo ý của mình, khi cấp dưới hỏi ý kiến, anh thường trả lời: “cứ làm
theo cách của cậu”).
Ưu điểm phong cách quản trị của Bình
Bình sẽ có điều kiện thời
gian để tập trung vào vấn đề chiến lược khác.
Bình tôn trọng và phát
huy tối đa quyền tự do và chủ động của cấp dưới, tạo điều kiện để cấp dưới tham
gia vào quá trình ra quyết định. Như vậy sẽ giúp cho Bình khai thác tài năng
của những người dưới quyền.
Quyết định của Bình dễ
được chấp nhận, đồng tình, ủng hộ và làm theo.
Nhược điểm phong cách quản trị của Bình
Bình buông lơi quyền lực,
để cho cấp dưới lấn át quyền lực. Như vậy sẽ không phát huy được vai trò của
nhà quản trị.
Bình sẽ khó kiểm soát
được cấp dưới, và lệ thuộc vào cấp dưới, có thể dẫn đến trì trệ công việc là do
thiếu sự tác động, thúc đẩy và giám sát.
Nếu Bình vẫn tiếp tục
kiểm soát không chặt chẽ, lỏng lẻo thì rất dễ làm cho mục tiêu quản trị của anh
bị đổ vỡ. Nhiều người sẽ lợi dụng sự lỏng lẻo đó để làm những điều vi phạm pháp
luật
Từ những đánh giá trên ta
nhận thấy phong cách quản trị của Bình thuộc phong cách quản trị tự do.
Câu 2.
Nếu là cán bộ quản lý,
tôi sẽ sử dụng phong cách quản trị dân chủ.
Phong cách quản trị
dân chủ có những đặc điểm cơ bản sau:
Thường sử dụng hình thức
động viên khuyến khích, hướng dẫn, uốn nắn… đối với cấp dưới.
Không đòi hỏi cấp dưới sự
phục tùng tuyệt đối. Các quy định có tính mềm dẻo, định hướng và hướng dẫn được
chú ý nhiều hơn.
Thường thu thập ý kiến
của những người dưới quyền, thu hút, lôi cuốn cả tập thể vào việc ra quyết
định, thực hiên quyết định.
Nhà quản trị chú trọng
đến hình thức tác động không chính thức, thông qua hệ thống tổ chức không chính
thức.
Khi sử dụng phong cách
quản trị ta có thể đạt được những ưu điểm sau:
Phát huy được năng lực
tập thể, trí tuệ của tập thể, phát huy được tính sáng tạo của cấp dưới, tạo cho
cấp dưới sự chủ động để giải quyết mọi việc.
Quyết định của các nhà
quản trị có phong cách dân chủ thường được cấp dưới chấp nhận, đồng tình, ủng
hộ và làm theo.
Thiết lập được mối quan
hệ tốt đẹp giữa cấp trên với cấp dưới, tạo ra được ekip làm việc trên cơ sở
khai thác những ưu điểm của hệ thống tổ chức không chính thức.
CHƯƠNG III : THÔNG TIN VÀ RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN
TRỊ
Bài 5: Thông tin và ra quyết định quản trị
Câu 1:
Khó có thể nói hai chuyên gia
marketing này ai đúng, ai sai bởi mỗi người đều có chủ kiến của mình, và dựa
vào những luận điểm không hề sai để đưa ra kết luận.
Chuyên gia thứ nhất cho rằng đây là một môi
trường đầy tiềm năng: đúng:
Bởi ở đây chưa ai đi giày cả. Có thể là do
chưa ai bán cho họ,chứ không phải do họ không muốn đi, hơn nữa nếu hãng mở thị
trường ở đây sẽ ngay lập tức chiếm được một thị phần không nhỏ, và doanh thu
chắc chắn sẽ tăng, vậy tại sao lại không đầu tư. Họ không đi giày có thể do
nguyên nhân kinh tế, do họ không đủ tiền mua, như vậy hãng sẽ phải sản xuất các
mặt hàng với những chất liệu có thể bán với giá thành hạ hơn để chiếm lĩnh thị
trường, sau đó chung ta sẽ tăng giá dần. Hoặc đầu tiên hãng sẽ hướng tới đối
tượng khách hàng chính không phải là dân bản địa, mà là những khách du lịch hay
những người nước ngoài làm việc tại đây,( bởi những người này đã quen đi giày)
hay những người chuẩn bị ra nước ngoài. Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá, các
quốc gia không thể đứng ngoài sự phát triển chung của thế giới, họ không chỉ
gìn giữ những bản sắc riêng của dân tộc họ, mà còn phải biết hoà nhập với nền
văn hoá thế giới, do đó họ không thể cứ giữ mãi truyền thống không đi giày
được, họ sẽ phải thay đổi điều này. Nếu nguyên nhân do điều kiện thời tiết,
hãng hoàn toàn có thể chỉnh sửa thiết kế cho phù hợp với thời tiết nơi đây.
Ngoài ra nếu cứ tiếp tục đầu tư vào các thị trường khác, tới một lúc các thị
trường này cũng sẽ bão hoà, như vậy chúng ta sẽ tiếp tục phải đi tìm các thị
trường mới, điều này sẽ gây tổn thất cho hãng. Do đó đây vẫn là một thị trường
đầy tiềm năng mà hãng nên khai thác.
Còn
chuyên gia thứ hai cho rằng vì không ai đi giày biết đâu lại là do tạp quán hay
tôn giáo của họ, đã là tập quán, tôn giáo thì rất khó thay đổi, tuy nhiên trong
xu thế toàn cầu hoá thì không một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, đóng cửa, giữ văn hoá lạc hậu như vậy
được.
Câu 2: Nếu
là giám đốc của hãng giầy trên
Những thông tin mà hai chuyên gia
trên mang lại chưa đầy đủ. Nếu là giám đốc của hãng giày trên, trước hết tôi sẽ
cho tìm hiểu một số thị trường tiềm năng hơn, đồng thời tiếp tục phân tích thị
trường Châu Phi kia, kiểm tra xem đâu là nguyên nhân chính dẫn tới việc họ
không đi giày. Thu thập những thông tin về hoạt động của các đối thủ kinh
doanh. Sau đó sẽ cân nhắc các giải pháp để đưa ra một phương án tốt nhất, phải
quyết định xem công ty đang ở giai đoạn phát triển nào có thể chấp nhận chịu
rủi ro hay không, bởi sự phát triển thị trường mới đòi hỏi phải có sự đầu tư
không nhỏ, nếu đầu tư không mang lại lợi nhuận chắc chắn sẽ gây thiệt hại cho
công ty. Là một nhà quản trị phải chú ý tới tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới
khả năng phát triển của thị trường như có ai bán chưa, người tiêu dùng ở đó có
khả năng mua không, tập quán của họ như thế nào, thói quen tieu dùng của họ ra
sao…? .
Câu 3: Giá
trị của thông tin
Thông tin là một thứ không thể thiếu
trong kinh doanh, những ai không có thông tin kịp thời và chính xác sẽ thất bại
trong quá trình kinh doanh. Bởi trong quá trình kinh doanh, nhà quản trị cần ra
những quyết định cho sự phát triển của doanh nghiệp, bán gì? ở đâu? Cho ai?
chất lượng như thế nào? nếu thông tin không có hay không nắm được chính xác thì
chắc chắn những quyết định sẽ không chính xác, gây tổn thất cho doanh nghiệp.
Bài 6: Giá
trị của thông tin
Câu 1: Bài học từ Phillip A.Mos
Thông tin được coi là đối tượng lao
động của nhà quản trị. Nó giúp nhà quản trị nắm bắt tình hình từ đó đưa ra các
quyết định đúng đắn và kịp thời. Trong tình huống này ta có thể thấy Phillip
Amos đã nắm bắt và xử lý thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác.
Thứ nhất ta học được ở Phillip khả
năng nắm bắt và xử lý thông tin nhanh nhạy. Chỉ từ một mẩu tin nhỏ trên báo nói
về tình hình bệnh dịch ở Mêhico ông lập tức nghĩ tới thị trường thực phẩm ở Mĩ,
là thị trường mà công ty ông đang tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ
thể hơn, nếu bệnh dịch lan tràn thì mặt hàng thịt sẽ trở lên khan hiếm, và để
ngăn chặn dịch bệnh chính phủ sẽ nghiêm cấm vận chuyển gia súc… Tất cả những
điều đó sẽ làm giá thịt tăng vọt và ông
cho rằng đây là cơ hội tốt cho công ty của mình.
Điều quan trọng thứ hai chúng ta có thể rút ra được từ câu chuyện này đó
là kiểm định tính chính xác của thông tin trước khi sử dụng. Đây là việc đầu
tiên mà Phillip làm sau khi có thông tin và nhận thấy đó là một cơ hội tốt cho
mình. Philip đã cho nhân viên tới Mêhico thăm dò tinh hình để kiểm định chắc
chắn nguồn thông tin trên. Không những thế, sau khi đã có thông tin chính xác
về tình hình dịch bệnh, Phillip còn cho nhân viên theo dõi các công ty khác là
đối thủ cạnh tranh của mình để từ đó đưa ra chiến lược hành động với bước đi
đúng đắn nhất. Ông nhận thấy đây là một cơ hội, trong khi các công ty khác đều
né tránh cơ hội này thì ông đã mạnh dạn chớp thời cơ. Phillip ngom tiền mua bò,
lợn sống vận chuyển sang vùng Đông nước Mĩ để tích trữ và tung số hàng này ra
thị trường khi giá đã tăng cao thịt gia súc trở lên khan hiếm và giá đã tăng
cao. Chiến lược đúng đắn này cuối cùng đã mang lại cho công ty ông một khoản
tiền lãi lên tới 9 triệu đôla.
Như vậy Phillip Amos đã thành
công trong chiến lược kinh doanh này. Đó là nhờ khả năng nắm bắt và xử lý thông
tin nhanh nhạy cùng những bước đi đúng
đắn. Chỉ từ một mẩu tin nhỏ, ông đã không bỏ xót mà suy đoán, tìm tòi cơ hội
cho doanh nghiệp của mình. Ông nhận thấy đó là cơ hội tốt nhưng không hề vội
vàng mà cử nhân viên đi xác minh lại nguồn thông tin đó, trước khi lấy làm căn
cứ ra quyết định quản trị. Có thể nói, Ámos đã biết tận dụng được nguồn thông
tin mà mình có một cách đầy đủ nhất. Điều đó chứng tỏ việc nắm bắt và xử lý
thông tin là tối cần thiết đối với các nhà
quản trị khi ra quyết định, trong đó yếu tố chất lượng của thông tin là
điều quan trọng làm cho thông tin thực sự có giá trị.
Câu 2 : Đánh giá về giá trị của thông
tin
Từ câu chuyện kinh doanh của
Phillip Amos ta có thể thấy thông tin có chất lượng, kịp thời, thích hợp… là
rất có giá trị và giữ vai trò to lớn trong việc đưa ra các quyết định quản trị.
Việc ra quyết định quản trị gắn chặt với yếu tố thông tin, từ thu thập thông
tin đến xử lý, phân tích, truyền đạt thông tin quản trị. Thông tin là cơ sở
khoa học để quyết định.
Thông tin cung cấp các dữ liệu
cần thiết liên quan đến hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Chẳng hạn như:
thông tin về nhân sự, tình hình tài chính, về các chính sách, quy định của pháp
luật liên quan đến hoạt động của tổ chức…
Thông tin giúp nhận dạng cơ
hội, nguy cơ từ sự thay đổi của môi trường tác động đến hoạt động quản trị.
Chẳng hạn trong trường hợp của Phillip Amos nhờ nắm bắt kịp thời thông tin về
sự thay đổi của môi trường mà Phillip đ ã ra quyết định đúng đắn mang lại lợi
nhuận không nhỏ cho công ty.
Thông tin còn giúp các nhà quản
trị xây dựng, lựa chọn phương án tối ưu để gải quyết các vấn đề nảy sinh.
Nói tóm lại, nguồn thông tin
kịp thời, đầy đủ, thích hợp và có chất lượng là nhân tố vô giá, không thể thiếu
được trong quá trình ra quyết định quản trị
CHƯƠNG
IV : CHỨC NĂNG HOẠCH ĐỊNH
Bài 7:
Hướng đi nào cho công ty Minh Hoa
Bất kì một nhà quản trị nào cũng cần phải
thực hiện công tác hoạch định. Hoạch định là chức năng khởi đầu và căn bản nhất
trong các chức năng quản trị đối với mọi cấp quản trị, và là cơ sở của các chức
năng quản trị khác. Hoạch định là một quá trình liên quan đến tư duy và ý chí
của con người, bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu, định rõ chiến lược, chính
sách, thủ tục, quy tắc, các kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu.
Câu 1:
Vấn đề mà doanh nghiệp đang gặp phải
Minh
Hoa là một công ty may mặc có uy tín trên thị trường, sản phẩm áo sơ mi nam của
công ty nhiều năm liền được bình chọn “top ten”. Nhưng thời gian gần đây tình
hình kinh doanh của Minh Hoa có vẻ chững lại, việc khảo sát thị trường cho thấy
hai luồng ý kiến như sau:
1 Khách hàng tại thành phố lớn cho rằng
áo của Minh Hoa không phải là “hàng hiệu”, không tạo được phong cách riêng cho
người mặc.
2 Nhưng khách hàng ở các tỉnh lại cho
rằng giá của sản phẩm hơi cao.
Như
vậy vấn đề mà công ty Minh Hoa gặp phải là: chưa xác định được sứ mạng và mục
tiêu của công ty. Sứ mạng thể hiện thiên hướng hoạt động hoặc lý do tồn tại của
tổ chức (tổ chức tồn tại để làm gì? Thực hiện các hoạt động kinh doanh nào?).
Mục đích là đích (kết quả tương lai) mà nhà quản trị mong muốn đạt được.Vậy ban
giám đốc công ty Minh Hoa xác định khách hàng mục tiêu là ai? Là khách hàng tại
thành phố lớn hay khách hàng ở các tỉnh? Mục tiêu của công ty Minh Hoa là gì?
Là lợi nhuận hay uy tín? Chính vì không xác định được tập khách hàng mục tiêu
mà Minh Hoa không hoạch định được chiến lược để phát triển công ty.
Câu 2 : Nếu là giám đốc công ty
Nếu
là giám đốc công ty Minh Hoa, trước tiên tôi phải xác định xem khách hàng mục
tiêu của công ty là ai? Sẽ phân phối sản phẩm công ty ở đâu?
Nếu
khách hàng của công ty Minh Hoa là những người có thu nhập cao, ưa chuộng hàng
hiệu thì sản phẩm của công ty sẽ phân phối ở các thành phố lớn là chủ yếu và
một ít ở các tỉnh có tình hình phát triển về kinh tế khá. Sản phẩm của công ty
Minh Hoa sẽ được bán ở các cửa hàng, siêu thị. Công ty Minh Hoa có thể làm theo
đề nghị của bộ phận tiếp thị là mua quyền sử dụng thương hiệu của một hãng thời
trang Mỹ nổi tiếng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng thành phố.
Nếu
khách hàng của công ty Minh Hoa là người có thu nhập trung bình và thấp, thì
sản phẩm của công ty sẽ phân phối trên cả nước vì ở các thành phố lớn vẫn có
người có thu nhập trung bình và thấp. Sản phẩm của công ty vẫn sẽ được bán ở
các chợ, công ty có thể mua thêm trang thiết bị để nâng cao năng suất và giảm
giá thành sản phẩm.
Câu 3:
Nhưng với tình hình hiện nay của công
ty Minh Hoa tôi sẽ ủng hộ phương án của bộ phận tiếp thị. Vì công ty Minh Hoa
là một công ty có uy tín trên thị trường, sản phẩm áo sơ mi nam của công ty
nhiều năm liền được bình chọn là “top ten”. Như vậy công ty Minh Hoa đã tạo
được thương hiệu trên thị trường may mặc. Nếu theo đề nghị của bộ phận sản xuất
là đầu tư mua thêm trang thiết bị để nâng cao năng suất và giảm giá thành thì
sẽ làm giảm uy tín của công ty vì ai cũng có thể mua được sản phẩm của công ty,
trong khi đó khách hàng ở các tỉnh chỉ cho rằng giá của sản phẩm hơi cao chứ
không phải là giá cao hay giá quá cao đến nỗi họ không thể mua được. Chỉ với
giá hơi cao mà họ có thể được mặc trên mình bộ quần áo của công ty có uy tín
trên thị trường may mặc thì tôi thấy rằng họ sẵn sàng bỏ thêm tiền để mua. Thêm
vào đó công ty Minh Hoa là công ty nhiều năm liền được bình chọn “top ten”, đây
là danh hiệu do người tiêu dùng bình chọn nên nhận định trên là có cơ sở.
Để
đáp ứng xu hướng ưa chuộng “hàng hiệu” của khách hàng tại thành phố lớn, theo
đề nghị của bộ phận tiếp thị, công ty Minh Hoa ký kết hợp đồng mua quyền sử
dụng thương hiệu tại Việt Nam của một hãng thời trang Mỹ nổi tiếng. Công ty sẽ
dần đào tạo và tuyển dụng đội ngũ nhân viên thiết kế, để tạo ra những mẫu mới
phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, đồng thời thành lập đội
ngũ nhân viên tư vấn khách hàng về phong cách ăn mặc sao cho phù hợp với ngoại
hình, cá tính của từng khách hàng khi họ có nhu cầu.
Bài 8:
Samsung Vina-con đường dẫn đến thành công
Câu 1:
Tất cả những nhà quản trị đều làm
công việc hoạch định để lựa chọn sứ mạng và mục tiêu của tổ chức cùng những
chiến lược để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Với việc xác định những mục
tiêu của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân trên cơ sở mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Hoạch định là việc xác định rõ công việc phải làm (tổ chức, lãnh đạo, kiểm
soát) và tiến hành thực hiện, cách thức thực hiện và các nguồn lực cần huy động
thực hiện mục tiêu. Hoạch định của quản trị là vạch rõ con đường để đi tớ mục
tiêu.
Samsung Vina đặt ra mục tiêu mở rộng
thị phần, dẫn đầu thị trường cả về thị phần, sản phẩm lẫn đẳng cấp, thương
hiệu. Chính vì vậy công ty đã vạch ra cho mình chiến lược, chiến thuật rõ ràng
để thực hiện mục tiêu này.
Ông Sung Youl Eom-tổng giám đốc Samsung
vina đã hoạch định chiến lược chỉ chuyển giao những mẫu mới nhất và phù hợp với
thị hiếu người Việt Nam, mà không đưa vào những sản phẩm cũ, giá rẻ để phù hợp
với mục tiêu công ty đặt ra là dẫn đầu thị trường cả về thị phần, sản phẩm lẫn
đẳng cấp, thương hiệu. Chất lượng tốt, mãu mã đẹp, giá cả phù hợp sẽ tạo nên
đẳng cấp thương hiệu cho Samsung Vina.Từ hoạch định chiến lược này,công ty đã
hoạch định ra chiến thuật cụ thể: Samsung Vina tung vào thị trường những sản
phẩm thiết kế đẹp, tích hợp những công nghệ và tính năng mới. Chính điều này đã
thu hút được sự chú ýcủa khách hàng người Việt Nam.Từ hoạch định chiến lược và
hoạch định tác nghiệp, công ty Samsung Vina tập trung nghiên cứu thị hiếu khách
hàng và đua ra hoạch định tác nghiệp: đưa ra thị trường dòng tivi Super Horn
với loa có công suất gấp 5 lần tivi thông thường để đáp ứng nhu cầu về những
chiếc tivi có bộ loa công suất lớn.
2.Công tác
hoạch định của Samsung Vina được thực hiện tuần tự theo các bước một cách rõ ràng.
Đầu tiên
công ty xác định cho mình một sứ mạng và mục tiêu cần đạt tới đó là mở rộng thị
phần, dẫn đầu thị trường cả về thị phần, sản phẩm lẫn đẳng cấp, thương hiệu.
Để đạt được mục tiêu đề ra công ty đã
nghiên cứu thị trường Việt Nam-một thị trường mà có quan niệm rằng hàng Nhật
Bản mới có chất lượng cao, còn hàng Hàn Quốc chỉ dành cho người ít tiền. Vì vậy
công ty Samsung Vina quuyết định đề ra chiến lược đưa vào Việt Nam những sản
phẩm mới nhất và phù hợp nhất với thị hiếu người Việt Nam để tạo nên sự đột phá
và thay đổi cách suy nghĩ của người dân Việt Nam về sản phẩm Hàn Quốc.
có sẵn trong tay công nghệ kỹ thuật, công ty Samsung Vina luôn
có những sản phẩm được thiết kế đẹp, tích hợp những công nghệ tính năng mới để
giới thiệu trên thị trường, nhờ đó thu hút sự chú ý của khách hàng, tạo lòng
tin và chấp nhận sản phẩm. Công ty đã đưa ra những chiến lược, chiến thuật hợp
lý vì nếu tung vào thị trường Việt Nam những sản phẩm đã xuất hiện ở Thái Lan,
Malaysia trước đó 3, 4 năm như nhiều công ty để cạnh tranh về giá thì sẽ không
thu hút được nhiều sự chú ý của khách hàng Việt Nam. Vì kinh tế Việt Nam đang
phát triển mạnh mẽ, thu nhập của người dân đã tăng lên, giới trẻ Việt Nam được
tiếp cận nhiều với khoa học công nghệ, thông tin thị trường và đặc biệt có xu
hướng chạy theo mốt nên cạnh tranh về giá không còn hợp lý nữa mà phải cạnh
tranh về tính năng, mẫu mã. Công ty Samsung Vina đã tìm ra hướng đi đúng đắn
cho mình và đã xâm nhập thị trường Việt Nam thành công. Tiếp đó là việc tung ra
thị trường dòng tivi Super Horn với loa có công suất gấp 5 lần tivi thông
thường. Chính sản phẩm này đã tạo ra buớc ngoặt và đưa tivi Samsung trở thành
một trong những thương hiệu dẫn đầu về thị phần Việt Nam.
Như
vậy nhờ công tác hoạch định tốt mà Samsung Vina tìm ra con đường đi phù hợp ở
thị trường Việt Nam và đạt được mục tiêu đề ra.
cá tính của
từng khách hàng khi họ có nhu cầu
CHƯƠNG
V : CHỨC NĂNG TỔ CHỨC
Bài 9:
Công ty quần áo may sẵn
Câu1:
Trong
bài này có hai ý kiến trái ngược nhau, đó là ý kiến của ông Minh và ý kiến của
cô Lan. Nhưng theo tôi thì ý kiến của cô Lan có lý hơn bởi vì chúng ta có thể
thấy rằng là việc tổ chức rất cần thiết cho mọi hoạt động của tổ chức.
Chúng ta đã biết rằng công tác tổ
chức tạo “nền móng” cho hoạt động của tổ chức nói chung và cho hoạt động quản
trị nói riêng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức đặc biệt là nguồn
nhân lựcvà cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra văn hóa tổ chức… như vậy thì không
thể phủ nhận sự có ích của việc tổ chức. Đối với ông Minh thì theo tôi điều này chỉ đúng
trong vài trường hợp với những điều kiện cụ thể, ví dụ như trình độ của người
quản trị quá giỏi khả năng quản trị của ông ta rất tốt với quy mô công ty còn
nhỏ hẹp…thì họ có thể không cần đến bản “sơ đồ mô tả công việc” mà họ vẫn làm
tốt công tác lãnh đạo. Ở đây, trong bài cũng có nói rằng công ty may sẵn quần
áo này đang trên đà phát triển, do vậy ông Minh không cần bản “sơ đồ tổ chức”
ông Minh vẫn làm tốt nhưng khi công ty của ông Minh đã phát triển với quy mô lớn
hơn, rộng hơn thì tôi nghĩ rằng nếu không có “sơ đồ mô tả công việc” thì hoạt
động quản trị của ông Minh sẽ không đạt hiệu quả. Ông Minh có nêu là “chúng ta
đã trưởng thành từ một công ty nhỏ với doanh thu hằng năm vài trăm triệu đồng
đến nay trở thành một công ty lớn với doanh thu hằng năm vài chục tỷ đồng chính
là tất cả chúng ta đã hòa hợp ăn ý với nhau” nhưng ông Minh đâu có biết rằng
thành công đó có sự đóng góp của “sơ đồ tổ chức và sơ đồ mô tả công việc” của
chị Lan. Chị Lan đã dùng chúng trong suốt quá trình làm việc của mình.
Như
vậy chúng ta hãy có suy nghĩ lại về “sơ đồ tổ chức” và “sơ đồ mô tả công việc”
thực sự là chúng rất cần thiết cho công tác quản trị của những nhà quản trị các
cấp.
Câu2:
Tuy
rằng là cơ cấu tổ chức có nhiều cái lợi cho nhà quản trị nhưng không thể
không có những nhược điểm mà chúng ta
cần khắc phục. Hiện nay có rất nhiều mô hình cơ cấu tổ chức để chúng ta lựa
chọn và cũng tùy từng cầu trúc với mô hình công ty mà chùng ta có những khắc
phục khác nhau. Sau đây là một số mô hình cơ bàn:
Cấu trúc tổ
chức đơn giản
- ưu điểm: gọn nhẹ, linh hoạt
Chi phí quản lý thấp
Kiểm soát và điều chỉnh dễ dàng
- nhược điểm: mỗi nhà quản trị phải làm nhiều
công việc, tình trạng quá tải đối với cấp quản trị
Cấu trúc tổ
chức chức năng:
- ưu điểm: phản ánh logic chức năng tuân thủ nguyên tắc chuyên môn hóa công việc, đơn giản hóa công việc đào tạo và huấn luyện nhân sự, nêu bật vai trò của các chức năng chủ yếu, dễ kiểm soát
- nhược điểm: chỉ có cấp quản trị cao nhất mới
có trách nhiệm về lợi nhuận
Tầm nhìn bị hạn chế
Tính phối hợp kém giữa
các bộ phận chức năng
Tính hệ thống bị suy
giảm
Kém linh hoạt
Cấu
trúc tổ chức theo sản phẩm
- ưu điểm: hướng sự chú ý và nỗ lực vào tuyến
sản phẩm
Trách nhiệm lợi nhuận thuộc
các nhà quản trị cấp dưới
Phối hợp tốt giữa
các bộ phận
Rèn luyện kỹ năng tổng hợp
cho các nhà quản trị
Linh hoạt
- nhược điểm: cần nhiều nhà quản trị tổnh hợp
Công việc có thể bị
trùng lặp
Khó kiểm soát
Cạnh tranh nội bộ về
nguồn lực
Cấu
trúc tổ chức theo khu vực địa lý
- ưu điểm: chú ý đến những đặc điểm của thị
trường địa phương
Tận dụng tốt các
lợi thế theo vùng
Tiết kiệm thời gian
đị lại của nhân viên
Quan hệ tốt với
các đại diện của địa phương
- nhược điểm: cần nhiều nhà quản trị tổng hợp
Phân tán nguồc lực
Công việc có thể bị trùng lặp
Khó kiểm soat
Cấu
trúc tổ chức định hướng theo khách hang
- ưu điểm: Tạo sự hiểu biết khách hàng tốt hơn
Rèn luyện kỹ năng tổng
hợp cho các nhà quản trị
- nhược điểm: Cần nhiều nhà quản trị tổng hợp
Công
việc có thể bị trùng lặp
Khó kiểm
soát
Cạnh
tranh nội bộ về nguồn lực
Cấu
trúc tổ chức dạng ma trận
- ưu điểm: cho phép tổ chức đạt được đồng thời
nhiều mục đích
Trách nhiệm của từng bộ
phận được xác định rõ
Phối hợp tốt giữa các bộ
phận
Rèn luyện kỹ năng tổng hợp
cho các nhà quản trị
- nhược điểm: tồn tại song song hai tuyến chỉ
đạo trực tuyến
Có sự tranh
chấp quyền lực gữa các bộ phận
Cấu
trúc tổ chức hỗn hợp
- ưu điểm: giải quyết được những tình huống
phức tạp
Cho phép chuyên môn hóa một
số cấu trúc tổ chức
Rèn luyện kỹ năng tổng hợp
cho các nhà quản trị
- nhược điểm: cấu trúc này phức tạp
Quyền lực và trách nhiệm
của các nhà quản trị có thể bị trùng lặp.
Khó kiểm soát
Tóm lại tùy vào mô hình, quy mô cua doanh nghiệp mà
nhà quản trị nên chọn những “cấu trúc tổ chức” phù hợp nhất.
Bài
10: Thay đổi cơ cấu tổ chức – Bài toán hiệu quả
Câu 1: Nhận
xét về chức năng tổ chức của công ty bibica.
Công ty bibica đã gặp phải sự cố do
quản lý không hiệu quả. Mà phần lớn vấn đề khó khăn phức tạp trong công tác
quản trị phải được xem xét giải quyết hiệu quả bắt đầu từ những nhược điểm của
công tác tổ chức. Chính vì nắm bắt được một cách kịp thời điểm yếu của mình ở
khâu tổ chức nên bibica đã quyết tâm rũ bỏ cách quản lý rời rạc. Trước tiên
bibica đã sửa đổi hệ thống thông tin gồm email, website, COC, ERP điều này cũng
quan trọng trong việc làm nên sự thành công
của chiến lược phát triển của công ty. Đồng thời Bibica cũng đã điều chỉnh cơ
cấu tổ chức, đó là bỏ cơ chế phó giám đốc và xây dựng ban lãnh đạo gồm tổng
giám đốc điều hành và các giám đốc các khối để phù hợp với hệ thống thông tin
mà công ty đầu tư. Bibica đã thành công khi áp dụng cấu trúc tổ chức chức năng.
Bibica đã chia tổ chức thành các tuyến chức năng, mỗi tuyến là một bộ phận đảm
nhận thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Mỗi bộ phận này được đặt dưới sự điều hành
của các giám đốc các khối như tài chính, kĩ thuật, bán hàng… điều này sẽ giúp
Bibica có sự chuyên môn hoá trong công việc, dễ kiểm soát công việc và vai trò
cuả các chức năng chủ yếu sẽ được nêu bật.
Một ưu
điểm nữa của Bibica đó là sự dứt khoát và sự quyết tâm trong việc thực hiện
chính sách mới. Mặc dù tỉ lệ sai số của
nhân viên ứng với hệ thống mới rất cao, và việc có thể phải bố trí thêm
nhân sự để nhập số liệu sẽ làm cho chi phí sản xuất của công ty tăng lên, nhưng
sự kiên quyết đã giúp Bibica đứng vững và phát triển.
Vậy có
nhận xét chung như sau:
Bibica
có một sự thay đổi kịp thời và hợp lí trong việc điều chỉnh và sắp xếp lại cơ
cấu tổ chức của công ty. Điều quan trọng giúp Bibica vượt qua được khó khăn và
đi đến thành công, đó là sự kết hợp ăn ý giữa cơ cấu tổ chức và việc cải tổ toàn
bộ hệ thống thông tin, chính là tổ chức và quản lí hoạt động theo ERP đã giúp
cho công ty kiểm soát được tình hình hoạt động kinh doanh.
Câu 2 : Bài
học có thể rút ra qua tình huống này :
Phải
phát hiện và điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động yếu kém trong tổ chức
Cần nắm
bắt đâu là điểm mạnh, đâu là điểm yếu để có thể làm nổi bật vai trò của các
chức năng.
Khi gặp
sự cố trong hoạt động kinh doanh cần phải xác định chính xác khó khăn cũng như
nhược điểm ( hạn chế ) ở khâu nào, để có chiến lược phát triển phù hợp với tình
hình lúc đó, phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp. Ở mỗi tình huống phải có
một cách giải quyết riêng không nên áp dụng một cách máy móc các biện pháp xử
lí, vì làm như vậy sẽ thiếu khoa học và không đạt hiệu quả.
CHƯƠNG
VI : CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO
Bài 11 : Ứng xử với nhân viên ở vị
trí mới
Câu 1: Qua
tình huống trên ta thấy Xuân đang gặp một số khó khăn sau đây:
Thứ nhất : Là một người mới được uỷ nhiệm làm
giám đốc chi nhánh Miền Nam của công ty du lịch Xuyên Việt, như vậy Xuân sẽ
phải chịu áp lực công việc, những khó khăn trong hoà đồng trong môi trường mới,
trong quản lí điều hành công việc. Hơn nữa, vì là người mới được bổ nhiệm nên
Xuân chưa có sự tín nhiệm của nhân viên dưới quyền, những quyết định của Xuân
có thể gây ra mâu thuẫn, không gặp thuận lới trong điều hành công việc.
Thứ hai : Mặt khác, khi mới nhận nhiệm vụ
Xuân còn gặp một khó khăn nữa đó là sự phẫn nộ, đố kị của Hải. Có thể Xuân có
kinh nghiệm 5 năm tổ chức các chương trình nhưng Hải vẫn không chấp nhận, vì
Hải có một lợi thế hơn đó là Hải hiểu biết về địa bàn nhiều hơn Xuân. Và Hải
cũng đã làm việc ở đây trước, có quan hệ tốt với các thành viên trong nhóm, Hải
cho rằng mình là người xứng đáng vào vị
trí giám đốc chứ không phải Xuân.
Thứ ba : Tiếp theo đó là áp lực từ công ty
lớn, yêu cầu Xuân phải ra những chiến lược phát triển cho chi nhánh, tạo
ra những quy trình mới để huấn luyện
nhân viên và cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
Câu 2 :
Trong tổ chức của Xuân có sự bất đồng
và mâu thuẫn, điều này ảnh hưởng đầu tiên tới khả năng hoàn thành công việc,
công việc không thể hoàn thành tốt khi mà người trên bảo người dưới không làm
hoặc có thái độ chống đối. Chính vì thế, Xuân cần có biện pháp xử lí thật hài
hoà các mổi quan hệ đồng nghiệp, nhất là quan hệ với Hải, để tạo ra sự thống
nhất trong nhóm để công việc có thể hoàn thành tốt nhất.
Về phía nhân viên: Xuân cần quan tâm
nhiều hơn đến nhân viên của mình, giao việc đến từng người, động viên, khuyến
khích để tạo động lực làm việc cho nhân viên. Khi người quản trị quan tâm đúng
cách đến nhân viên của mình thì sẽ tạo ra sự tín nhiệm của nhân viên đối với
mình, họ sẽ hết lòng giúp đỡ mình hoàn thành công việcđược giao. Quan tâm tới
đời sống của nhân viên cũng là một điều rất quan trọng, Xuân cần nắm rõ tình
hình của nhân viên trong nhóm mình ( vì trong nhóm Xuân chỉ có 10 người ) để từ
đó tìm ra cách quan tâm, khuyến khích…
Xuân phải chứng tỏ mình là người có năng lực thật sự, đáng để mọi người
tín nhiệm, Xuân phải chứng tỏ năng lực của mình thông qua những hành động, việc
làm, những phương hướng đúng cho công việc, đi sâu đi sát vào các hoạt động của
nhân viên, tạo một không khí thân thiện trong công ty. Chỉ như vậy Xuân mới có
thể tạo được niềm tin và sự ủng hộ của nhân viên dưới quyền. Đồng thời giúp Hải
nhận ra được rằng Xuân xứng đáng được bổ nhiệm vào chức vụ này, bằng cách đưa
ra những hướng đi phù hợp, thăm dò thị trường tạo một hiểu biết sâu rộng về môi
trường mới, hỏi Hải những điều chưa biết hoặc cùng bàn luận về những khó khăn
và thuận lợi ở nơi đây, như vậy tạo cho Hải thấy rằng dù Hải không phải là giám
đóc của chi nhánh nhưng vẫn là một nhân viên rất giỏi, tạo hứng thú với công
việc cho Hải. Làm được như vậy không chỉ cải thiện được quan hệ với Hải, xoá bỏ
một phần mâu thuẫn, mà còn có thêm một nhân viên dưới quyền thông thạo và tận
tình chia sẻ công việc, giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn khi có những con
người tâm huyết và hiểu rõ công việc.
Bài 12: Bài học từ Tom Sawyer
Câu 1 : Bài học về nghệ thuật uỷ thác,
uỷ quyền
Qua câu chuyện Tom Sawyer ủy thác công việc cho những cậu bé trong thị trấn, ta có thể rút ra được bài học về nghệ thuật ủy nhiệm, ủy thác như sau :
Để ủy nhiệm, ủy thác công việc đạt hiệu quả, nhà quản trị cần phải biết được khả năng của nhân viên nào là phù hợp với nhiệm vụ mình ủy thác. Cần tin tưởng khả năng của người nhân viên cấp dưới mà mình ủy thác công việc, đồng thời biết cách khích lệ tinh thần làm việc và tinh thần trách nhiệm của người
nhân viên được ủy
thác, làm cho công
việc trở nên có giá trị hơn trong mắt của nhân viên cấp dưới.
Làm được như vậy tức là nhà quả
trị đã biết cách chia sẻ công việc với cấp dưới. Việc làm này hoàn toàn là có lợi.
Thứ nhất, nó sẽ làm giảm gánh nặng, áp lực về công việc đối với nhà quản trị để họ có thời gian tập trung quan sát một cách tổng thể tiến trình công việc, từ đó đưa ra được hướng đi hợp lý cho công việc đạt hiệu quả tốt.
Thứ hai, nhờ ủy thách, ủy quyền mà những người nhân viên cấp dưới sẽ được tiếp xúc dần với công việc, làm quen với những công việc đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao đồng thời kích thích tính tự chủ, sáng tạo của người nhân viên. Trong trường hợp người lãnh đạo đi vắng, không có mặt tại công ty thì những người cấp dưới sẽ không bị bỡ ngỡ, mà tự biết cách quản lý để công việc đạt hiệu quả trong phạm vi trách nhiệm tốt nhất.
Tuy
nhiên, trong quá trình ủy
nhiệm, ủy quyền, nhà quả trị
phải có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát tiến trình thực hiện nhiệm vụ của người được ủy quyền để có giải pháp ứng phó kịp thời đối với những trường hợp xảy ra trong tiến trình công việc.
Câu 2 : Người ủy nhiệm, ủy quyền nên " ngồi dưới một bóng cây và chỉ đạo các hoạt động" ?
Điều ấy sẽ không sai nếu việc chỉ đạo ở đây được thực hiện bao gồm cả hướng dẫn, lãnh đạo và kiểm soát. Để hiểu rõ ý kiến này ta có thể phân tích hai hoàn cảnh lãnh đạo sau :
Thứ nhất là hoàn cảnh trong câu chuyện. Tom ngồi dưới bóng
cây và chỉ đạo các hoạt động. Tom ở đây không chỉ ngồi dưới bóng cây và chỉ chỏ
bảo người này làm thế này, người kia làm thế khác một cách bừa bãi, mà cậu bé luôn quan sát xem bọn trẻ sơn thế nào và chỉ đạo bọn chúng sơn cho đẹp, hợp với ý của dì Polly. Đây là việc làm hoàn toàn hợp lý. Bởi biết đâu nếu Tom tự tay sơn mà lại không đẹp bằng bọn trẻ, thì chúng sẽ nghi ngờ và có thể phát hiện ra ý đồ của Tom và sẽ không giúp Tom làm tiếp nữa. Hơn thế, Tom không tham gia sơn mà chọn một nơi thích hợp ( gốc cây mát mẻ), với khoảng cách đủ khả năng quan sát một cách tổng thể tiến trình công việc của bọn trẻ, thì có thể chỉnh sửa được kịp thời để hàng rào sơn được đẹp hơn.
Thứ hai, trong hoàn cảnh môi trường
quản trị, ở đây xuất hiện hai trường hợp :
Nếu là nhà quản trị cấp cao và cấp trung gian, thì họ không cần trực tiếp tham gia vào công việc, mà chỉ ở
ngoài quan sát, đưa ra
những đường lối đúng đắn cho công việc. Do đó việc này là hoàn toàn hợp lý.
Tuy
nhiên, nếu
là nhà quản trị cấp cơ sở thì việc làm trên chưa chắc đã hợp lý bởi nhà quản trị cấp cơ sở phải trực tiếp tham gia vào công việc và đòi hỏi có chuyên môn, làm việc tốt hơn cả những người nhân viên của họ. Do đó nếu họ không tham gia vào làm thì các nhân viên dưới quyền sẽ thắc mắc và dần nghi ngờ khả năng của người lãnh đạo, tinh thần làm việc của người nhân viên sẽ dần trở thành đối phó, mất đi lòng tin và sự kính trọng ở nhà quản trị. Từ đó dẫn tới kết quả công việc sẽ không được cao.
Tóm lại, là một nhà quản trị giỏi đòi hỏi phải biết cách ủy nhiệm, ủy thách công việc cho những người nhân viên cấp dưới, sao cho hợp lý với hoàn cảnh công việc của mình, thì công việc mới đảm bảo được hoàn thành tốt và nhà quản trị giảm bớt được áp lực công việc, để tập trung vào công việc chuyên môn, đồng thời đối với người nhân viên cấp dưới thì có cơ hội để làm quen với công việc, thể hiện được khả năng sáng tạo, tinh thần tự chủ, tinh thần trách nhiệm của mình.
CHƯƠNG VII : CHỨC NĂNG
KIỂM SOÁT
Bài 13. Chiều thứ 6 và sáng thứ 7
Câu 1. Sang đã mắc phải lỗi gì trong quá trình kiểm soát?
Đối với mỗi đối tượng
kiểm soat khác nhau thì phải áp dụng các hình thức kiểm soát khác nhau. Trong
trường hợp này Sang đã áp dụng hình thức kiểm soát trước, kiểm soát sau (theo
thời gian tiến hành kiểm soát), kiểm soát toàn bộ (theo mức độ tổng quát của
thời gian kiểm soát). Tuy nhiên, các hình thức mà Sang áp dụng chưa thưc sự đem
lại hiệu quả cao nhất và đối với mỗi hình thức này Sang đều mắc phải sai lầm.
Thứ nhất, Sang đã áp dụng hình thức kiểm soát
trước. Tuy nhiên việc kiểm soát của Sang vẫn chưa thực sự đầy đủ và chặt chẽ.
Anh ta đã lập kế hoạch, thời gian, giao công việc cho từng nhân viên, hướng dẫn
họ với nguyên tắc chuẩn mực đã xác định và trang thiết bị sẵn có nhưng anh ta
chưa xác định được năng lực của những nhân viên mà anh ta giao công việc, anh
ta chưa chắc chắn là trang thiết bị có đảm bảo sẽ hoạt động tốt hay không.
Thứ hai, Sang cũng đã áp dụng hình thức kiểm
soát sau. Vào ngày thứ 6 – ngày mà công việc phải hoàn thành, Sang đã kiểm tra
kết quả làm việc của các nhân viên nhưng công việc chưa hoàn thành, Sang đã
quyết định để nhân viên làm thêm giờ. Sai lầm mà Sang mắc phải ở đây là Sang đã
không tìm ra nguyên nhân tại sao công việc không đảm bảo theo đúng kế hoạch mà
Sang đã vạch ra để có thể hoàn thành công việc theo đúng tiêu chuẩn đã đề ra.
Mà ngay lập tức quyết định điều chỉnh hoạt động.
Thứ ba, Sang đã tiến hành kiểm soát trước
và sau nhưng có một hình thức kiểm soát hết sức quan trọng là kiểm soát trong
thì Sang lại không áp dụng. Đối với công việc của Sang, kiểm soát trong là hết
sức cần thiết và phải được ưu tiên đặc biệt nhưng Sang lại không coi trọng. Anh
ta chỉ quan sát thấy nhân viên làm việc rất chăm chỉ và bận rộn. Rất có thể có
những rủi ro bất ngờ xảy ra trong quá trình nhân viên thực hiện công việc mà
chính Sang cũng không ngờ đến. Ví dụ như thiết bị hỏng hóc, có nhân viên bị ốm…
Sang đã quá tự tin vào kế hoạch của mình mà không nghĩ đến những tình huống xấu
có thể xảy ra nên đã giao phó toàn bộ công việc cho nhân viên.
Thứ tư, Sang đã tiến hành kiểm soát toàn bộ
và nhận định của Sang chỉ là nhóm gửi thư làm việc rất tất bật, Sang mới chỉ
đánh giá tổng quát mức độ thực hiện công việc. Đánh giá của Sang là rất chung
chung, còn cụ thẻ kết quả thực hiện công việc của nhóm và của từng cá nhân thì
Sang không nắm được.
Câu 2. Nếu anh (chị) là Sang anh (chị)
sẽ làm gì để đảm bảo công việc sẽ hoang thành đúng thời hạn?
Nếu tôi là Sang tôi sẽ áp
dụng các hình thức kiểm soát sau để hoàn thành công việc:
Tiến hành kiểm soát trước
trong và sau một cách cẩn thận và kỹ lưỡng. Cụ thể: Bước đầu, giống như Sang
tiến hành lập một kế hoạch hoàn chỉnh cho nhiệm vụ với các tiêu chuẩn cụ thể,
lên thời gian biểu cho từng phần, xác định năng lực của từng nhân viên để giao
nhiệm vụ phù hợp đồng thời hướng dẫn họ một cách kỹ lưỡng. Sau mỗi ngày tiến
hành kiểm tra kết quả công việc của các nhân viên xem họ đã gửi được bao nhiêu
thông tin đến khách hàng. Nếu như kết quả đảm bảo tiêu chuẩn mà kế hoạch đã đặt
ra thì tiếp tục để nhân viên làm việc. Nhưng nếu nhận thấy kết quả công việc
chậm hơn so với tiêu chuẩn đã đặt ra thì cần phải tìm hiểu xem nguyên nhân của
sự chậm chễ trong công việc để từ đó có những giải pháp điều chỉnh ngay một
cách hợp lý.
Bài 14:
Kiểm soát hay không kiểm soát
Câu 1:
Hoạt động kiểm soát của
công ty A theo tôi có thể được thực hiện. Vì vậy câu trả lời “ chúng tôi không
có hoạt động kiểm soát gì cả” là chưa đúng.
Chứng minh:
Vì theo khái niệm của
chức năng kiểm soát: Hoạt động kiểm soát xảy ra khi nhà quản trị trả lời được
các câu hỏi:
+ Kiểm soát cái gì ?
Công ty A có kiểm
soát về tài chính (doanh thu) vì theo ông PGĐ nói “Nếu không nộp đủ khoán về
cho công ty thì công ty sẽ xem xét”
+ Kiểm soát khi nào ?
Mỗi quý kiểm tra một
lần.
+ Kiểm soát ở đâu ?
“Chúng tôi chỉ cần
căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hằng quý của các trưởng đơn vị
trong công ty”. Vậy là kiểm soát ở báo cáo kết quả của trưởng các đơn vị.
+ Kiểm soát như thế
nào?
“Quầy hàng nào, cửa hàng nào thua lỗ thì sẽ phải tự chịu. Nếu không nộp
đủ khoán về cho công ty thì công ty sẽ xem xét, chuyển giao cửa hàng đó cho một
phụ trách mới hoặc sát nhập với một đơn vị kinh doanh khác. Trong trường hợp có
lãi, số lãi thu được sau khi nộp khoán về công ty thì các quầy, các cửa hàng tự
chia nhau theo thoả thuận”
+ Chờ
đợi thấy cái gì ở kiểm soát ?
“Chúng tôi chỉ cần căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hằng
quý của các trưởng đơn vị trong công ty để ra các quyết định đầu tư, thu hồi,
điều chỉnh nhân sự nếu cần thiết”. Kiểm soát
Câu 2:
Sự kiểm soát của
công ty là không chặt chẽ, chỉ là căn cứ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh hằng quý của các trưởng đơn vị trong công ty, đồng nghĩa với việc có sự
gian lận, không công bằng thì cấp quản trị cao hơn khó có thể nắm bắt được. Nên
nó không giúp cho nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn và hợp lý.
Kiểm soát giúp nhà quản
trị nắm được tiến độ và chất lượng thực hiện công việc của các cá nhân, bộ phận
trong tổ chức. Cách kiểm soát của công ty A thì không làm được điều này, các
nhân viên trong công ty sẽ không hoà hợp nhau, không thống nhất mục đích chung,
có sự cạnh tranh lẫn nhau.Vì vậy kiểm soát chưa tạo ra chất lượng tốt hơn cho
hoạt động trong công ty. Mọi nhân viên có thể dùng mọi cách để đảm bảo doanh
thu hàng tháng mà có thể không quan tâm đến chất lượng và uy tín của công ty.
Kiểm soát phải giúp được
nhà quản trị đối phó kịp thời với những thay đổi của môi trường. Mỗi quý kiểm
tra báo cáo một lần, liệu khi gặp sai sót hay gặp phải những khó khăn do môi
trường thay đổi có kịp ứng phó hay không?
Tóm lại:
Ưu điểm:
Giảm gánh nặng cho người quản trị, không tốn thời
gian, công sức, chi phí để giám sát từng người.
Luôn đảm bảo doanh thu hàng tháng, không lo thua lỗ
Không cần phải hướng dẫn, đào tạo nhân viên, nên giảm
được chi phí.
Nhược điểm:
Không theo dõi và nắm bắt được khả năng của từng
người, vì vậy không tận dụng được nhân tài và đào thải những người làm việc
không tốt.
Mặc dù không thua lỗ, nhưng cũng không thu được lời
lãi vì các quầy, cửa hàng chỉ nộp đủ khoán. Cách khoán doanh thu của công ty
chỉ là giải pháp tạm thời, trong ngắn hạn, nếu trong thời gian dài hạn thì sẽ
lỗ do lạm phát và môi trường thay đổi.
Không phản ứng kịp đối với sự thay đổi của môi trường
tác động đến doanh nghiệp.
Nhân viên vì phải nộp đủ khoán nên dùng mọi cách, ví
dụ như không đảm bảo chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của
công ty.
Nguồn: Ebook VCU
No comments:
Post a Comment