Wednesday, August 26, 2015

Bài thi Quản trị chất lượng - VCU

Một số đề thi tham khảo môn Quản trị chất lượng

Đề 21:
1) bình luận quan điểm Để "nâng cao chất lượng, hạ giá thành" các nhà sxkd phải tìm mọi cách giảm chi phí đầu vào
2) bình luận câu nói của thủ tướng Phan Văn Khải: "chúng ta chấp nhận cạnh tranh bằng con đường nâng cao chất lượng sản phẩm". để thực hiện chiến lược này, doanh nghiệp VN phải làm gì?
3) bài tập tự hiệu chuẩn dụng cụ đo

Tuesday, August 25, 2015

Ôn thi Marketing căn bản - Đề số 1

Đáp án chỉ mang tính chất tham khảo.

Câu 1 (4,5 điểm): Chọn phương án trả lời đúng nhất (Không cần chép lại câu hỏi. Các câu Đúng/Sai không cần giải thích)

1. Làm việc với phóng viên để viết một bài báo hay về công ty của bạn là một ví dụ về hoạt động:
a. Quan hệ công chúng - 
Đáp án
b. Bán hàng cá nhân
c. Quảng cáo
d. Xúc tiến hỗn hợp


2. Hãng mỹ phẩm Revlon nhận ra rằng khi một người phụ nữ mua một thỏi son thì người đó không chỉ đơn thuần là mua màu của son mà còn mua niềm hy vọng. Hãng mỹ phẩm này đã nhận ra cấp độ nào trong các cấp độ cấu thành sản phẩm sau đây:
a. Sản phẩm hiện thực
b. Những lợi ích cốt lõi - 
Đáp án
c. Sản phẩm tiện lợi
d. Sản phẩm bổ sung

Thảo luận dường lỗi CMĐCS “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”

MỞ ĐẦU
   Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mục tiêu quan trọng nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng nhất. Nguồn nhân lực kết hợp cùng với thành tựu khoa học kỹ thuật sẽ góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước thành một nước phát triển. Là một nước đang ở trình độ phát triển thấp kém như nước ta hiện nay chưa thể xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao dần chất lượng của người lao động, phát huy nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu lớn lao của toàn dân tộc, đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế chúng ta cần phải tìm hiểu vấn đề “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”

Đề thi kỹ năng tiếng anh 1.3 (VCU)

Đáp án chỉ mang tính chất tham khảo, giúp các bạn ôn thi tốt hơn để có điểm số cao trong môn kỹ năng tiếng anh 1.3 tại Đại học Thương Mại. Chúc bạn ôn thi và thi tốt :)

Đề 21
1.buring coal is an .... way of heating a house.Gas is much more expensive.
A economic
B economy
C economica
l D uneconomical
2.one of the new salesmen has .... me to buy a new car
A suggested
B persuaded
C argued
 D resulted
3.the board of directors was unhappy because we didn't meet the .... for opening the office by 2nd september
A schedule
B research
C deadline
D costs
4.we apologized .... our teacher for not having done all the home work assigned by her last week
A for
B with
C about
 D to
5..... means an idea for a new product,which is tested with target consumers before the actual product is developed
A product concept
 B Product features
C product launch
D product life cycle
6.Our competitors are exploiting our weaknesses to increase their market.....from 25% to 35%
A segment
B share
C segmentation
D leader
7.the government is offering new tax incentives as well as making a renewed efford to reduce....
A labour force
B inflatinon rate
C interset rate
D government bureaucracy
8.there are some solutions to make products.... and stay ahead in today's market
A hing_tech
 B best_selling
C long_lasting
D hard_wearing
9.this director is my partner to....I owe more than I can say
A that
 B Who
C Whom
D Whose
10."Can you collect information about possible locations for the new office tomorrow"The boss asked ... collect information about possible locations for the new office the next day
A if I can
B whether he could
C if I could
D whether could I
11.What should you consider when deciding... up your out business
A to start
B start
C staring
D started
12.how to get .... is probably one of the most often asked question in the working world
A promote
 B to promote
 C promotion
D promoted
13.a good manager should..... to a deputy as much as possible
A répond
B delegate
C communicate
D listen
14.I wish I .... that was my colleague's birthday,I .... her a present
A had known/would buy
B know/will buy
C knew/would have bought
D had known/would have bought
15......to get the railroad station?45'
A how far do you take
B how often do you do
C how long does it take
D how fast does it take you

Monday, August 24, 2015

Đề tài thảo luận học phần Thương Mại Điện Tử Căn Bản - TMĐTCB

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN TMĐTCB


TT
NỘI DUNG
NHÓM
Đề 1
Tìm hiểu mô hình kinh doanh của website Vatgia.vn. Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
1 và 2
Đề 2
1.      Tìm hiểu mô hình kinh doanh của Công ty Cổ phần phát thanh và truyền hình Hà Nội (website 25h.vn). Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
3 và 4
Đề 3
Tìm hiểu mô hình kinh doanh TMĐT của Ngân hàng Teckcombank. Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
5 và 6
Đề 4
Tìm hiều mô hình kinh doanh của Công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình? Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
7 và 8
Đề 5
Tìm hiểu mô hình thanh toán của Bảo Kim. Nghiên cứu những ưu điểm và hạn chế của mô hình này? Chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục?
9 và 10
Đề 6
Tìm hiều mô hình kinh doanh của Chợ điện tử. Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
11 và 12

Tuesday, August 18, 2015

Đề cương ôn thi môn các phương pháp nghiên cứu khoa học

Đề Cương NCKH
Câu 1:trình bầy quy trình NCKH
Câu 2: Vấn đề nghiên cứu,phân loại các vấn đề nghiên cứu? lấy VD về các vấn đề nghiên cứu.
Câu 3: phương pháp xử lý thử nghiệm và đơn vị thử nghiệm
Câu 4: ý nghĩa của TK chọn mẫu. Trình bầy các phương pháp chon mẫu?
Câu 5: Ý nghĩa của sai số đối với XĐ quy mô mẫu?
Câu 6: Trình bầy các loại thang đo và lấy VD các loại thang đo?
Câu 7: Ưu điểm và cách sử dụng thang đo tỷ lệ?
Câu 8: phân biệt, kiểm tra tính hiệu lực và mức độ tin cậy?
Câu 9: k/n thao tác hóa? Lấy VD
Câu 10: Thiết kế thang đo laiker? Trình bày quy trình?
Câu 11: ưu điểm phương pháp quan sát về ứng dụng vào TMĐT.?
Câu 12: Nhược điểm  phương pháp phỏng vấn về cách thức triển khai ?
Câu 13: các tiêu chuẩn đánh giá 1 bảng các câu hỏi?
Câu 15: phân tích dữ liệu thu thập xử lý dữ liệu..

Đề 7 :
1.      Nêu các pp chọn mẫu ngẫu nhiên. Cho ví dụ?
2.      Phân tích mqh của ktra tính hiệu lực và ktra tính tin cậy. Ý nghĩa của ktra tính tin cậy.
Đề 8:
1.      Pb thang đo thứ bậc và thang đo khoảng. Cho ví dụ?
2.      Có những loại vấn đề nghiên cứu nào? Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu?  Phân loại, cho ví dụ?


Ôn thi kỹ năng tiếng anh 1.5 (phần tiếp theo)

Vocabulary:
A-             
1.      able (adj)       / ‘eibl/  [be + able + to do smt]
2.      academic (adj)/ academy   
3.      advertisement/ advertising/ advertise
4.      advice/ advise
5.      ambition/ ambitious
6.      application /application on/ apply for
7.      attraction/ attractive
8.      agreement
B-
C-
1.      carefulness/ careful (adj)/ carefully (adv)
2.      collection / collector
3.      competition/ competitor/ competitive (adj)/ competitiveness/ competitively (adv)/ compete (verb)
4.      confidence/ confident (adj)
5.      creation/ create (verb)/ creative (adj)/ creativeness/ creatively (adv)

D-
1.      decision / decide = make a decision = take a decision
2.      difference (between A and B/ in smt) / different (from/ to/ than sb/ smt)
3.      difficulty / difficult
E-
1.      economy/ economic/ economize/ economical
2.      employment/ employer/ employee/ unemployment/ employ/ unemployable/ unemployed/ employable
3.      experience (in/ of)
F-
1.      freelancer / freelance (adj)
2.      friend/ friendly (adj)
3.      fortune
G-
H-
I-
1.      importance/ important (adj)
2.      improvement / improve (verb)
3.      industry/ industrial (adj)
4.      intend (verb)/ intendment
5.      interview/ interviewer
6.      investment/ invest (verb)/ investor
J-
K-
L-
1.      luck/ lucky/ luckily/ luckless
M-
1.      management/ manager/ manage
2.      manufacturing/ manufacture
N-
O-
1.      opinion
2.      opportunity
3.      organization (-isation)/ organize (verb)
P-
1.      product/ production/ producer/ produce
2.      practicality/ practice/ practical (adj)/ practically (adv)
Q-
1.      qualification(s)/ qualify (verb)
2.      quality
R-
1.      reason/ reasonable (abj)
2.      referee/ reference
S-
1.      satisfaction/ satisfied (adj)
2.      sacrifice
3.      success/ successful (adj)/ successfully (adv)/ succeed (verb)
4.      stress/ stressful/ stressed


Lession 2:
1.     Vocabulary:
-         Difference (n) ~  [difference between A and B]
+ Differ (v) [differ from]
+ Different (adj) [ different from/to/than (sth, sb)...]

-         Product (n)
+ production (n)
+ producter (n)
+ productive (adj)
+ productiveness (n)
+ productivity (n)
+ productively

-         Qualification (n)
+ qualify (v)
+ qualified (adj)

-         Application (n) [!: Always be “applications”]
+ application form = “đơn xin việc”
+ apply (v) [ apply = “ứng dụng” nhưng: apply for = “ xin việc “]

-         Freelancer (n)
+ freelance (adj)
          Go freelance = work freelance = be self-employed
+ freelance ## self-employed

-         Truth (n)
+ true (adj)
-         References (n)

+ referees (n)

Friday, August 14, 2015

Thảo luận tư tưởng hồ chí minh

MỤC LỤC:

Vấn đề 1: Cơ sở hình thành TTHCM, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và khoa học của TTHCM? Tại sao?

Vấn đề 2:Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức Cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức,lối sống,của SV hiện nay.

VẤN ĐỀ 3:  Bằng lý luận và thực tiễn hãy phân tích và chứng minh luận điểm :” Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.


Vấn đề 1: Cơ sở hình thành TTHCM, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và khoa học của TTHCM? Tại sao?
I. Cơ sở hình thành TTHCM
1. Nhân tố khách quan

TTHCM không phải là sản phẩm chủ quan, phản ánh tâm lý, nguyện vọng của nhân dân VIệt Nam
đối với lãnh tụ kính yêu của mình. TTHCM là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan và sự giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng đặt ra từ đầu thế kỷ XX đến nay.
TTHCM được hình thành dưới tác động , ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử-xã hội cụ thể của dân tộc và thời đại mà Người đã sống và hoạt động. Thiên tài HCM là ở chỗ Người đã nắm bắt chính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc mình.

1.1     Bối cảnh lịch sử hình thành TTHCM
1.1.1   Tình hình thế giới

HCM bước vào vũ đài chính trị khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã bước sang giai đoạt đế quốc chủ nghĩa. Năm 1912, Hốp-xơn ( Người Anh) đã mô tả tường tận đặc điểm kinh tế là các nước lớn xâm chiếm thuộc địa và chia nhau xong đất đai thế giới. Đây là đặc điểm liên quan trực tiếp đến việc hình thành tư tưởng HCM sau này. Theo Lênin, thế giới phân chia đa số (70%) các dân tốc bị áp bức, số ít (30%) các dân tốc đi áp bức. Đặc điểm chung là diện tích và dân số các thuộc địa lớn gấp nhiều lần so với diện tích và dân số các nước chính quốc. Đây là tư tưởng cơ bản của Quốc tế cộng sản và là cơ sở để chỉ đạo cách mạng thế giới. Tại Đại hội V quốc tế cộng sản (1924) HCM đã đưa ra con số đầy thuyết phục như: thuộc địa của Anh lớn gấp 252 lần diện tích nước Anh, dân số thuộc địa Anh lớn gấp 8,5 lần dân số nước Anh

Bên cạnh mâu thuẫn vốn có là mâu thuẫn giữa Tư sản và Vô sản, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang độc quyền hình thành hệ thống thuộc địa làm nảy sinh mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa và các nước Chủ nghĩa Đế quốc, phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ nhưng chưa ở đâu giành được thắng lợi. Chủ nghĩa Mác – Leenin phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập và phong trào cách mạng thế giới, trở thành hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại.
Chủ nghĩa tư bản phát triển không đều, một số nước Tư bản gây chiến tranh chia lại thuộc địa làm đại chiến Thế giới 2 nổ ra, Chủ nghĩa đế quốc suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tháng 10 nổ ra và thành công, mở thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, làm phát sinh mâu thuẫn mới giữa chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Xã hội.

Năm 1917, Cách mạng tháng mười Nga thắng lợi mở ra thời đại mới- thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản làm nảy sinh mâu thuẫn thời đại: CNXH và CNTB. Quốc tế Cộng sản là trung tâm tập hợp lực lượng cách mạng và chỉ đạo cách mạng thế giới. Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin có vai trò quan trọng đối với sự hình thành tư tưởng HCM và tạo tiền đề bỏ qua CNTB lên CNXH ở Việt Nam.

Tư tưởng HCM được hình thành dần dần từ cảm tính đến lý tính nhằm tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Việc xuất hiện TTHCM là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam và do lịch sử của cách mạng Việt Nam quy định.

1.1.2    Tình hình Việt Nam
·        Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động…không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Vì vậy, đã không phát huy được những thế mạnh của dân tốc và đất nước, không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và hiệp định Patonot (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trong long xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ mà là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng them đen tối. Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước…lãnh đạo họ là các sĩ phu van than mang ý thức hệ phong kiến nhưng đều không thành công: như Trương Định, Đồ Chiểu, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám…

Sang đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc: giai cấp CN, Tư sản dân tốc, tiểu tư sản ra đời, các cuộc cải cách dân chủ tư sản ở Trung Quốc của Khang Hiểu Vi, La Khải siêu ( dưới hình thức Tân thư, tân sinh) tác động vào Việt Nam làm cho phong trào yêu nước chống Pháp chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản gắn với phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục Hội của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Duy Tân của Phan Chu Trinh…do các sĩ phu phong kiến lãnh đạo. Nhưng do bất cập với xu thế lịch sử nên đều thất bại.  Tình hình đen tối như không có đường ra.
Chính lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện, Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào giải phóng dân tốc là : các phong trào giải phóng dân tộc đều không gắn với tiến bộ xã hội. Nguyễn Ái Quốc nảy ra ý định ra đi tìm đường cứu nước- con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến với TTHCM: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giải phóng dân tộc phải đi theo con đường mới. Sự xuất hiện TTHCM là một tất yếu, đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam.

1.2  Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2.1          Giá trị truyền thống dân tộc
Dân tộc Việt Nam trong hang nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp, cao quý.
·        Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sang ngời trong lịch sử : Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,…đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn. Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận, khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó. Đó là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa và tinh thần Việt  Nam.
·        Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc nên bởi cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, của dân tộc ta. Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý, triết lý sống, niềm tự hào của con người Việt Nam. Bởi vậy, ở mỗi người dân Viết Nam gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc, của dân tộc thì chủ nghĩa yêu nước ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến thành một sức mạnh thúc đẩy mình vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, mọi thử thách gian nan. Chính từ thực tế, Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý ấy: “ Dân ta có một long nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn song vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước, cướp nước ”. Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam của chủ nghĩa yêu nước mang tính cộng đồng ấy đã nhân sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời HCM- Nguyễn Ái Quốc, là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tiếp thu lý luận cách mạng và khoa học đó, để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, hoài bão của các thế hệ cách mạng Việt Nam. “ Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Và khi Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh tìm được con đường cứu nước đúng đắn thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lại được nâng lên một tâm cao mới: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
·        Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “ lá lành đùm lá rách” trong hoạn nan, khó khăn. Truyền thống này cũng được hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn bền vững. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng” ( đồng tình, đồng lòng, đồng sức, đồng minh).
·        Truyền thống đoàn kết, đoàn kết là sự gắn bó, hợp tắc với nhau để tạo nên sức mạnh. Truyền thống đoàn kết được hình thành cùng với sự hình thành cùng với sự hình thành của dân tộc Việt Nam và là nguồn cội của sức mạnh dân tộc Việt: đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng và dòng họ, đoàn kết trong cộng đồng làng xã, đoàn kết quốc gia dân tộc, …
·        Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan yêu đời. Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân minh, dân tộc mình, tin vào sự tất thắng cuẩ chân lý, chính nghĩa. Hồ Chí Minh chính là hiện thân của truyền thống lạc quan đó.
·        Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời cũng là một dân tộc ham học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng mở rộng cửa văn hoa tinh hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương đông đến tư tưởng văn hóa hiện đại của phương Tây. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của Người thành những giá trị của riêng mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó.

1.2.2    Tinh hoa văn hóa nhân loại
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chính điều đó đã làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, một con người tượng trưng cho sự kết hợp hoài hòa văn hóa Đông- Tây.
·        Văn hóa Phương Đông: Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn  hóa phương Đông.
-         Trước hết nói về Nho giáo: Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng triết lí hành động, lí tưởng về một xã hội bình trị. Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hóa, Lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh phê phán Nho giáo có tư tưởng tiêu cực duy tâm, lạc hậu, như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chia đẳng cấp- quân tử và tiểu nhân, trọng nam khinh nữ, chỉ đề cao người đọc sách. Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất nhiều dựa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
-         Tiếp theo là về Phật giáo: Phật giáo du nhập và Việt Nam rất sớm. Ngay khi Nho giáo trở thành quốc giáo, Phật giáo còn ảnh hưởng rất sâu sắc trong nhân dân, để lại nhiều dấu ấn cho văn hóa Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng đến phong tục tập quán, lối sống,…Bên cạnh  những mặt tiêu cực vốn có của Tôn giáo, Phật giáo cũng có rất nhiều ưu điểm như: tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng Phật giáo và Việt Nam gặp chủ nghĩa yêu nước đã hình thành nên Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, chủ chương không xa đời sống mà gắn bó với nhân dân, đất nước, tham gia vào cộng  đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc. Có thể nói những mặt tích cực của Phật giáo đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động.  Và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phật giáo vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh vào Việt Nam. Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân…; là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện; là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp; là việc đề cao lao động, chống lười biếng “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” là chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa nhiều tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông như: Lão tử, Mặc tử, Quản tử,…đặc biệt là tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lâp, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc).
Người viết: “ Học thuyết Khổng Tử” có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-xu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. chủ nghĩa Mác-Lênin có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.Khổng Tử, Giê xu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu lợi cho xã hội”. nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy.
Là người mác xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng, văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.
·        Cùng với những tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nên văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người đã nhìn thấy mặt trái của “ lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái. Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà khái sáng Pháp như: Voltaire, Rousso, Montesquieu.
Thiên chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh là văn hóa. Điểm tích cực nhất của thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc Đông- Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “ chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”.
Tóm lại, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
1.2.3    Chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là đỉnh cao trí tuệ nhân loại bao gồm 3 bộ phận cấu thành:
Triết học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng, nhân sinh quan, khoa học, Cách Mạng, thấy được những quy luật vận động phát triển của thế giới và xã hội loài người.
Kinh tế chính trị học vạch rõ các quan hệ xã hội được hình thành phát triển gắn với quá trình sản xuất, thấy được bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với CNCN, xóa bỏ bóc lột gắn liền với xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và  sự chuyển biến tất yếu của xã hội loại người từ chủ nghĩa Tư bản lên chủ nghĩa Cộng sản.
Chủ nghĩa Xã hội Khoa học vạch ra quy luật phát sinh, hình thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, những điều kiện, những tiền đề, nguyên tắc, con đường, học thức, phương pháp của giai cấp công nhân, nhân dân lao động để thực hiện sự chuyển biến xã hội từ chủ nghĩa Tư bản lên chủ nghĩa Xã hội, Cộng sản.
Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin với bản chất cách mạng và khoa học của nó giúp Người chuyển biến từ Chủ nghĩa yêu nước không có khuynh hướng rõ rệt thành người Cộng sản, chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thấy vai trò của quần chúng nhân dân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, liên minh công- nông- trí thức và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đảm bảo thắng lợi cho chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một bộ phận tinh túy nhất của văn hóa nhân loại. Nó mang tính khoa học sâu sắc và cách mạng triệt để. Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Người tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của mình mà tìm ra con đường cứu nước. Vì vậy mà Người từ người đi tìm đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.
-         Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác-Lênin, những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của lý luận Mác-Lênin.
-         Tư tưởng Hồ Chí Minh không những là sự vận dụng sáng tạo mà còn là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, làm phong phú thêm kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
-         Lý luận Mác-Lênin là một học thuyết cách mạng và khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.
Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của mình mà tìm ra con đường cứu nước. Ảnh hưởng sâu sắc vào quyết định ấy đã thể hiện trong câu nói của Người : “ chủ nghĩa Mác-Lênin là cái cẩm nang thần kì”, hoặc: “ lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế 3. Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới”. “ bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” và “ chính do cố gắng vận dụng lời dạy của Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam mà chúng tôi đã chiến đấu và dành được thắng lợi to lớn”.

2.     Nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh:
·        Hồ Chí Minh là người có đầu óc thông minh sáng suốt, năng lực tư duy độc lập sáng tạo, học vẫn uyên bác, năng lực phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp sâu sắc trong suốt việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới.
·        Có ý chí nghị lực kiên cường, những phẩm chất được tôi luyện đã quyết định việc Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, chuyển hóa, phát triển những tinh hoa của dân tộc, thời đại thành những tư tưởng đặc sắc độc đáo của mình.
·        Có tấm lòng yêu nước, thương dân, thương yêu những con người cùng khổ vô bờ bến, một chiến sĩ cộng sản quả cảm, nhiệt thành sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, nhân dân, dân tộc và nhân loại.
·        Người không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh tri thức đồ sộ của nhân loại, tiếp thu kinh nghiệm, bề dày của phong trào cộng sản và chủ nghĩa Quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc. Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp thu được các giá trị văn hóa nhân loại.

II.    Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.     Chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lenin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên độc lập tự do. “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta…là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội…”. Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp khoa học được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hóa mà nhân loại đã sáng tạo ra.
·        Mác-Ănghen cũng như Lênin đã kế thường có chọn lọc những thành tựu khoa học, những giá trị tư tưởng và văn hóa, những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội mà nhân loại đã đạt được; bằng thiên tài của trí tuệ cộng với sự lao động nghiêm túc, vượt lên mọi trở ngại, khó khăn, những cám dỗ của vật chất và vòng cương tỏa hà khắc của chế độ chính trị đương thời, các ông đã để lại cho nhân loại một di sản vô cũng quý báu, một cơ sở lý luận khoa học để giải phóng con người, giải phóng xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho con người.
·        Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt. đồng thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niềm tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình.
·        Học thuyết đó cũng đã chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. đó là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về sự chuyển biến từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác không phải diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt. Từ đó Mác-Lênin đã trực tiếp nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu thông qua cuộc cách mạng xã hội.
·        Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện ở chỗ: đó là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến mà nó đòi luôn được bổ sung, tự đổi mới, tự phát triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về sự phát triển, bao hàm cả sự phát triển của chính học thuyết đó với tinh thần phê phán và tự phê phán. Bởi lẽ, có nhiều vẫn đề mà các ông chưa có điều kiện, thời gian nghiên cứu, làm sáng tỏ hoặc do hạn chế của lịch sử nên những luận điểm của các ông cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Các ông đòi hỏi những người cách mạng đời sau bổ sung và phát triển làm cho các học thuyết đó hoàn chỉnh.
Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học và nhân đạo, chủ nghĩa Mác-Lenin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện:
-         Quyết định bản chất thế giới quan khoa học thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
-         Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.
-         Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, “muốn cách mạng thành công phải đi theo chủ  nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lênin”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là “ kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và điều kiện cụ thể ở nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tôc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.
2.   Con người Hồ Chí Minh.
2.1.     Khả năng tư duy và trí tuệ của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã không người quan sát, nhận xét thực tiễn, làm phong phú thêm hiểu biết của mình, hình thành những cơ sở quan trọng để tạo dựng lên những thành công trong lĩnh vực hoạt động lý luận.
Người cũng đã khám phá ra các quy luật vận động xã hội…để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Nhờ vậy mà lý luận của Hồ Chí Minh mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học.
2.2.     Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn

Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo là đặc trưng nổi bật, bao trùm nhất, điển hình cho phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Đặc trưng này được thể hiện ngay khi Người còn ngồi trên ghế nhà trường, cho đến khi lựa chọn con đường cứu nước. Chính nét đặc sắc này đã làm cho phong cách tư duy của Người vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại, vừa có giá trị phổ biến, bền vững, vừa có tính độc đáo rất riêng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người giàu trí tuệ mà còn là một người có tình cảm, có ý chí, nghĩ lực phi thường. Ở Người, ý chí, tình cảm cách mạng và tri thức khoa học thống nhất trong tư duy, trong hành động và trong quá trình vạch ra đường lối cho cách mạng Việt Nam.

Mọi suy nghĩ, sáng tạo của Người đều xuất phát từ thực tiễn đất nước và thời đại. Xuất phát từ thực tiễn mà người đưa ra những luận điểm đúng đắn nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một vĩ nhân với một phong cách tư duy độc lập tự chủ sáng tạo gắn với thực tiễn là bởi vì Người “Người đã biết làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những di sản quý báu của văn hóa nhân loại. Người biết kế thừa các học thuyết một cách có phê phán, chọn lọc, không bao giờ sao chép máy móc,cũng không bao giờ phủ định một cách giản đơn mà có sự phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu tố tích cực,làm giàu thêm vốn kiến thức và hành trang tư tưởng của mình”. Đặc trưng này làm cho Người trở thành một nhà mác-xít với đầy đủ những yếu tố khoa học và biên chứng.

Quan điểm thực tiễn của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong cách tiếp cận với các học thuyết cách mạng. Hồ Chí Minh luôn coi các học thuyết chỉ là công cụ để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc và đem lại hòa bình, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin, Hồ Chủ Tịch viết: “Tôi tham gia Đảng xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy_(hồi đó tôi gọi các đông chí của tôi như thế)_đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức… Hồi ấy, trong các chi bộ của Đảng xã hội người ta đã bàn cãi sôi nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ 2, hay là nên tổ chức một thế giới thứ hai rưỡi, hoặc tham gia quốc tế thứ 3 của Lênin?...Điều mà tôi muốn viết hơn cả-và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?... Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: đó là Quốc tế thứ 3, chứ không phải là quốc tế thứ 2. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo…Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo? “Hỡi đồng bào bị đày đạo đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Quan điểm thực tiến càng rõ trong hoạt động ngoại giao. Những ngày tháng đầu tiên sau Cách mạng tháng 8, để có thời gian củng cố lực lượng chính quyền nhân dân còn non trẻ đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn quốc tế, thêm bạn bớt thù, Hồ Chủ tịch chủ trương đối thoại, hòa hoãn, nhưng kiên trì mục đích cuối cùng là độc lập dân tộc. Nhận rõ những khó khăn do thái độ không thiện chí của Pháp và cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu tăng lên giữa các cường quốc, Hồ Chủ tịch thậm chí từng có ý định từ chức để Bảo Đại thay mặt Chính phủ thương thuyết nhằm đạt được độc lập dân tộc. chính nhờ đường lối khôn khéo này mà chúng ta đấy được quân Tàu Tưởng ra khỏi miền Bắc và đạt được thỏa thuận với Pháp tháng 3 năm 1946, trong đó Pháp “ Công nhận nước Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do, có Chính Phủ, Quốc hội, Ngân khố, Quân đội, nằm trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp” và như vậy đã xác lập Chính phủ Hồ Chí Minh là “ chính phủ  hợp pháp duy nhất của Việt Nam”.
Hồ Chí Minh bàn nhiều đến đạo đức và vai trò của đạo đức trong đấu tranh cách mạng. Người chỉ rõ: đạo đức là cái gốc của cách mạng. người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm một thể thống nhất giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức sống mãnh liệt, đã sớm đi vào nhân dân, được nhân dân tiếp nhận. cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng góp có giá trị vào triết học về con người của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: 2 lần ngồi tù, 1 lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, cáo giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng”. vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm nghi kị còn day dứt hơn nhiều. để kiên trì chân lí, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó.

Kết luận:
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan và chủ quan, của truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. cùng với thực tiễn dân tộc và thời đại được Hồ Chí Minh tổng kết, chuyển hóa sắc xảo, tinh tế với một phương pháp khoa học, biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng Việt Nam hiện đại. Chúng ta phải biết coi trọng, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh như Đảng và Nhà nước đã phát động.

Vấn đề 2:Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức Cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức,lối sống,của SV hiện nay.
Phần 1. Mở đầu
        Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

        Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất  đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng
Phần 2. Nội dung
Chương 1. Vai trò và sức mạnh của đạo đức
I. Đạo đức là cái gốc của người mạng     
        Sau cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hố Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “ bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh “, “ đè đầu cưỡi cổ dân “ mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…,lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công…

       Vì vậy, - Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” . 
        Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.
       Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”. Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.
      Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.
      Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..
       Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.
Như vậy, Hồ Chí Minh, nền đạo đức mới của dân tộc ta bắt đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ, thấm sâu vào đời sống, trở thành một bộ phận hết sức quan trọng khắc họa diện mạo và đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, của Văn hiến Việt Nam hiện đại. Nó đã trở thành vũ khí mạnh mẽ của Đảng và của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới.

II. Đạo dức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn cua CNXH     
      Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của CNXH phải là ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản ưu tú,bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó trở thành hiện thực.
      Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch.
Tấm gương đạo đức trong sang của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thường của Hồ Chí Minh chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam, mà còn cả với nhân dân thế giới.
Chương 2. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng
I . Trung với nước, hiếu với dân
      “Trung” và “hiếu” vốn là những khái niệm đạo đức cũ chứa đựng nội dung hạn hẹp: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn phận, trách nhiệm của dân đối với vua, con đối với cha mẹ.
      Hồ Chí Minh đưa vào khái niệm cũ một nội dung mới, mang tính cách mạng, đó là trung với nước, hiếu với dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
       Từ chỗ trung với vua, hiếu với cha mẹ đến trung với nước, hiếu với dân là một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Hồ Chí Minh đã lật ngược quan niệm đạo đức cũ, đạo đức Nho giáo, xây dựng đạo đức mới “như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.
       Theo quan điểm Hồ Chí Minh, nước là nước của dân và dân là người chủ của nước. Vì vậy, “trung với nước, hiếu với dân” là thể hiện trách nhiệm với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên và phát triển của đất nước.
II. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
         Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức cũ, được Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới. Người chỉ ra rằng: phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thực hiện; ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một biểu hiện sinh động của phẩm chất “trung với nước hiếu với dân”.
        Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai. Kiệm là tiết kiệm vật tư, tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ, không hoang phí. Liêm là trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng. Chính là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn. Các đức tính đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cần mà không kiệm giống như một chiếc thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm. Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn chỉnh.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người”3
       Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì, nếu cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm thì sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của cách mạng, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Mặt khác, những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.
       Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh tiến bộ của một dân tộc. Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua yêu nước; là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại.
       Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào; là đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
       Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là chỉ muốn “mọi người vì mình” mà không biết “mình vì mọi người”. Nó là một thứ giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Nó là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm, như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền… Tóm lại, “chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp – hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi – để ngóc đầu dậy”. Chủ nghĩa cá nhân là mối nguy hại cho cá nhân con người, cho một đảng và cả dân tộc. Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”4. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
      Tuy nhiên, cần có nhận thức đúng đắn đâu là chủ nghĩa cá nhân, đâu là lợi ích cá nhân. Hồ Chí Minh cho rằng: đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có cá tính riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống của riêng mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.
III. Thương yêu con người
         Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của các dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có nhiều người, nhiều công việc, nhưng có thể chia thành hai hạng người: người thiện và người ác, và hai thứ việc: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác. Từ đó, Người kết luận: những người bị áp bức, bị bóc lột, những người làm điều thiện thì dù màu da, tiếng nói, chủng tộc, tôn giáo có khác nhau, vẫn có thể thực hành chữ “bác ái”, vẫn có thể đại đoàn kết, đại hòa hợp, coi nhau như anh em một nhà.
       Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng kiểu tôn giáo, mà luôn luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của giai cấp vô sản, dành cho các dân tộc và con người bị áp bức, đau khổ.
       Hồ Chí Minh thương yêu con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la rộng lớn, vừa gần gũi thân thương đối với từng số phận con người. Hồ Chí Minh luôn sống giữa cuộc đời và không có cái gì thuộc về con người đối với Hồ Chí Minh lại là xa lạ. Người quan tâm đến tư tưởng, công tác, đời sống của từng người, việc ăn, việc mặc, ở, học hành, giải trí của mỗi người dân, không quên, không sót một ai, từ những người bạn thuở hàn vi, đến những người quen mới. Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh luôn gắn liền với hành động cụ thể, phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho con người.
IV. Tinh thần quốc tế trong sang           
       Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
        Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và của xã hội xã hội chủ nghĩa.
       Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc. Người khẳng định: bốn phương vô sản đều là anh em; giúp bạn là giúp mình; thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới. Người đã góp phần to lớn, có hiệu quả xây đắp tình đoàn kết quốc tế, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình trên thế giới.

Chương 3. Nguyên tắc xây dựng và tu dưỡng đạo đức cách mạng
I. Nói đi đôi với làm
        Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm. Người quan tâm đặc biệt, hàng đầu tới vấn đề đạo đức. Người để lại nhiều bài viết, bài nói về đạo đức và quan trọng hơn là Người thực hiện trước hết, nhiều nhất những tư tưởng ấy. Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản, bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “nói thì phải làm”. Người còn làm nhiều hơn những điều Người nói, kể cả việc làm mà không nói. Mỗi việc làm, mỗi hành vi của Người đều tiềm ẩn những tư tưởng đạo đức sáng ngời. Đây là một bài học quý giá cho mỗi chúng ta muốn tìm hiểu những tầng sâu bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thì không chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói, mà phải khám phá những hành vi đạo đức của Người, nghiên cứu những bài nói, bài viết của bạn bè quốc tế, những học trò của Người.
Tại sao nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức?
         Đạo đức cách mạng là đạo đức luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của cách mạng. Điều này phân biệt một cách rạch ròi với thói đạo đức giả, đạo đức của giai cấp bóc lột với những đặc trưng bản chất là nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo, đem lại lợi ích không phải cho quần chúng nhân dân lao động, mà cho thiểu số những kẻ bóc lột.
         Nói đi đôi với làm còn nhằm chống thói đạo đức giả. Sáu mươi năm qua, từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, nơi này, nơi khác, trên những mức độ khác nhau ở cán bộ, đảng viên ta vẫn còn tồn tại hiện tượng nói không đi đôi với làm. Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và chế độ mới. Ngay từ tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói tới những kẻ “vác mặt làm quan cách mạng”. Sau này, trong nhiều lần bàn tới việc cần tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh, Người chỉ rõ: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”.
        Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là một nét đẹp của văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”6. Noi theo tấm gương của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh cũng đào tạo các thế hệ cách mạng người Việt Nam không chỉ bằng lý luận cách mạng, mà bằng chính tấm gương đạo đức cao cả.
        Theo Hồ Chí Minh hơn bất kỳ một lĩnh vực nào khác, trong lĩnh vực đạo đức đặc biệt phải chú trọng “đạo làm gương”. Làm gương có nhiều cấp độ, phạm vi và hệ quy chiếu khác nhau. Ở đâu cũng có người tốt, việc tốt. Giai đoạn cách mạng nào cũng cần có nhiều tấm gương. Tùy theo nhiệm vụ và tình hình cụ thể mà tấm gương đó được biểu hiện ở những mặt nào, trong chiến đấu, lao động, học tập, cuộc sống đời thường trong gia đình, ngoài xã hội… Việc bồi dưỡng, nêu gương “người tốt, việc tốt” là rất quan trọng và cần thiết, không được xem thường. Nhiều giọt nước hợp lại mới thành suối, thành sông, thành biển cả. Không nhận thức được điều đó là “chỉ thấy ngọn mà quên mất gốc”. Xây dựng đạo đức mới, nêu gương đạo đức phải rất chú trọng tính chất phổ biến, rộng khắp, vững chắc của toàn xã hội và những hạt nhân “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.
II. Xây đi đôi với chống
        Làm cách mạng là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Xây dựng đạo đức mới lại càng phải quan tâm điều này. Bởi vì trong Đảng và mỗi con người, vì những lý do khác nhau, nên không phải “người người đều tốt, việc việc đều hay”. “Mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”7. Mặt khác, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong cuộc chiến đấu đó, có nhiều kẻ địch nhưng thường có ba loại: chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm; thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ; loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta; nó chờ dịp – hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi – để ngóc đầu dậy; nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia.
       Nhận thức như vậy để thấy rằng “đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng”8. Đối với từng người, Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo, ít lòng tham muốn về vật chất, vị công vong tư…
       Chống và xử lý nghiêm là nhằm xây, đi liền với xây và muốn xây thì phải chống. Mục đích cuối cùng là xây dựng con người có đạo đức và nền đạo đức mới Việt Nam. Vì vậy, phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài.
         Giáo dục đạo đức phải phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau. Đồng thời, phải chú ý tới hoàn cảnh, nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Xa rời thực tiễn và khư khư giữ lấy những nội dung cũ khi thực tiễn đã vượt qua đều không phù hợp với quan điểm xây dựng đạo đức của Hồ Chí Minh.
        Xây dựng đạo đức có nhiều cách làm. Trước hết mỗi người và tổ chức phải có ý thức tự giác trau dồi đạo đức cách mạng. Bản thân sự tự giác cũng là phẩm chất đạo đức quý đối với từng người và tổ chức. Điều này càng cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi vì: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”9.
       Xây đi đôi với chống trên cơ sở tự giáo dục, đồng thời phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Điều này thuộc quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng nhân dân tự xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong Di chúc, Hồ Chí      Minh cũng viết rõ: Để chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng và tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
        Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn phát động phong trào quần chúng rộng rãi và đem lại những hiệu quả thiết thực. Đó là phong trào thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; cuộc vận động “3 xây, 3 chống”: nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế – tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
III. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
        Tu dưỡng đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh đã nói về ưu điểm của Khổng Tử là “vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Quan điểm của Khổng Tử là “chính tâm, tu thân”. Có “tu thân” mới làm được những việc lớn khác như “trị quốc, bình thiên hạ”. Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta phải nhớ câu “Chính tâm, tu thân” để “trị quốc bình thiên hạ”. Chính tâm tu thân tức là cải tạo. Cải tạo cũng phải trường kỳ gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong bản thân của mỗi người. Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ để trở thành con người mới không phải là một việc dễ dàng… Dù khó khăn gian khổ, nhưng muốn cải tạo thì nhất định thành công”10.
       Đạo đức cách mạng, đạo đức mới khác đạo đức cũ ở chỗ nó gắn với thực tiễn cách mạng và phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Vì vậy, việc rèn luyện, tu dưỡng bền bỉ suốt đời phải như công việc rửa mặt hàng ngày là một trong những yêu cầu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
      Cái ác luôn ẩn nấp trong mỗi người. Vì vậy, không được sao nhãng việc tu dưỡng, mà phải rèn luyện suốt đời, bền bỉ. Đặc biệt trong thời kỳ hòa bình, khi con người đã có ít quyền hạn, nếu không ý thức sâu sắc điều này, dễ bị tha hóa, biến chất. Hồ Chí Minh so sánh: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”12. Nếu không chú ý điều này, sa vào chủ nghĩa cá nhân thì có thể ngày hôm qua có công với cách mạng, nhưng ngày hôm nay lại có tội với nhân dân.
        Đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người, đó là đạo đức của những con người được giải phóng. Vì vậy, tu dưỡng đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm và trách nhiệm của mỗi người. Chỉ có như vậy thì việc tu dưỡng mới có kết quả trong mọi môi trường, mọi mối quan hệ, mọi địa bàn, mọi hoàn cảnh.
Phần 3.Vận dụng
        Hiện nay, nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Cơ cấu xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi. Phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội diễn ra phức tạp. Tình hình trên đã và đang tác động đến sinh viên về ý thức chính trị, tâm trạng, đạo đức lối sống v.v… Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đang làm cho những tác động đó ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn.
      Trải qua hơn 20 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh vực đã tác động tích cực đến sinh viên, tạo điều kiện cho họ tiến bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, khoa học công nghệ. Sinh viên đã kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang xuất hiện những nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ thuật có đức, có tài trong độ tuổi sinh viên. Nét nổi bật của sinh viên nước ta là ý chí vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.
      Tuyệt đại bộ phận sinh viên cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành mạnh, biết vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Sinh viên sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ dám đấu tranh để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự công bằng, lên án cái xấu, cái ác như tham nhũng, lãng phí… Những tấm gương cao đẹp hy sinh thân mình vì hạnh phúc của nhân dân luôn được tuổi trẻ ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Điều đó cho thấy, sinh viên nước ta ngày nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.
        Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức của hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt những âm mưu thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động mạnh mẽ đến sinh viên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng, sa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc , có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước. Một số sinh viên mơ hồ về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Điều nguy hiểm hiện nay là đã xuất hiện một bộ phận sinh viên tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất, coi đồng tiền là trên hết. Cá biệt có một số sinh viên phạm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Nhiều vụ án được khám phá trong thời gian gần đây cho thấy tỷ lệ phạm tội trong sinh viên có chiều hướng gia tăng.
       Một trong các nguyên nhân của những biểu hiện yếu kém nêu trên là do chúng ta chưa thật sự quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ trước những biến đổi to lớn của đất nước. Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống còn thiếu chiều sâu, chưa thiết thực. Hình thức giáo dục đạo đức, lối sống còn sơ sài, chưa có sức hấp dẫn, lôi cuốn sinh viên. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng, giữa nhà trường, gia đình, xã hội còn nhiều hạn chế.
      Từ thực trạng trên đây, để thiết thực thực hiện cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cần đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên. Phát huy vai trò to lớn của sinh viên trong sự nghiệp cách mạng là việc làm quan trọng và mang tính cấp thiết. Giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên hiện nay là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình và toàn xã hội với nội dung sâu rộng, hình thức phong phú đa dạng. Trước hết, tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp dưới dây:
Một là, thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho sinh viên.
      Đây là giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa cho sinh viên, vì đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Trước hết cần quan tâm giáo dục những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng cho sinh viên thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chú trọng giáo dục làm cho sinh viên nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nhà trường, gia đình, các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt Đoàn sinh viên Cộng sản Hồ Chí Minh phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng cho sinh viên những tình cảm cao đẹp về tình yêu quê hương, đất nước: “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “thương người như thể thương thân”, quên mình vì nghĩa lớn… Từ đó hình thành cho họ lối sống trong sạch, lành mạnh, những hành vi đạo đức trong sáng phù hợp với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và thời đại.
Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên.
      Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên, hình thành phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN.
       Trước hết gia đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho sinh viên. Gia đình là nơi mà tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình, ông bà, cha mẹ phải thật sự mẫu mực, làm gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Hiện nay do sức ép về lao động, việc làm khiến cho không ít các bậc làm cha, làm mẹ mải miết mưu sinh hoặc chỉ lo làm giàu mà thiếu quan tâm việc giáo dục đạo đức cho con cái, hoặc khoán trắng cho nhà trường và xã hội. Nhiều khi con cái vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật mà cha mẹ không hề hay biết, hoặc không biết cách ngăn chặn, phòng ngừa. Để giáo dục đạo đức cho sinh viên, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu.
       Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt coi trọng. Một số nhà trường mới chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn, tay nghề mà xem nhẹ hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.
       Sinh viên ngày nay đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng. Sinh viên đã và đang chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy các tổ chức, đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, nhất là Đoàn sinh viên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, tập hợp sinh viên, rèn luyện sinh viên theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống của sinh viên
Ba là, phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sinh viên
        Sinh viên là lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ. Phát huy vai trò của sinh viên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành. Đó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân. Trước hết phải hình thành cho sinh viên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho sinh viên. Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để sinh viên rèn luyện đạo đức, lối sống. Mỗi sinh viên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại người. Sinh viên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”.
Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ sinh viên vừa "hồng", vừa "chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu.
Phần 4. Kết luận
     TTHCM về đạo đức cách mạng là những quan niệm, tư tưởng về 1 nền đạo đức mới (cách mạng và tiến bộ). Cùng với tư tưởng, tấm gương đạo đức HCM mãi soi sáng cho nhân dân VN học tập và noi theo đặc biệt là trong xây dựng dân tộc VN ngày càng văn minh như mong ước của Người.

VẤN ĐỀ 3:  Bằng lý luận và thực tiễn hãy phân tích và chứng minh luận điểm: ” Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
I.                  ĐẶT VẤN ĐỀ
     Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm đó có nhiều luận điểm hết sức sáng tạo, thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh tính đúng đắn và giá trị to lớn. Tiêu biểu trong đó là luận điểm” Cách mạng giải phóng dân tộc cần phải chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”.
    Đây là một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản:
-         Theo Mac- Ănghen: cách mạng vô sản ở chính quốc là cần thiết và được thực hiện trước.
-         Theo Lê nin: Cách mang ở thuộc địa phj thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc.
-          Theo Hồ Chí Minh: Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động , sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc .

II.           LÝ LUẬN

  1.Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động , sáng tạo:
        -Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa:
  Đây là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu chi các nhà máy của nó, là nơi đầu tư, tiêu thụ hàng hóa, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lãnh đạo của nó, và nhất là tuyển những binh lính bản xứ cho đạo quân phản cách mạng của nó … nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa .
        - Khả năng lãnh đạo to lớn của nhân dân các dân tộc thuộc địa:
·          Chính sách khai thác thuộc địa hết sức tàn bạo của CNĐQ là mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa với CNĐQ ngày càng gay gắt vì vậy mà tiêm năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn. 
·          Tinh thần yêu nước và CNDT chân chính của các dân tộc thuộc địa là một sức mạnh tiềm ẩn của CMGPDT. Sức mạnh đó nếu được chủ nghĩa Mác- Lênin giác ngộ và soi đường thì CMGPDT ở các nước thuộc địa sẽ có một sức bật rất lớn và có khả năng chủ động cao so với CMVS ở chính quốc. 
·          Thuộc địa là khâu yếu của CNTB nên CMGPDT ở thuộc địa dễ dàng giành chính quyền hơn. 
-         Chủ nghĩa dân tộc là một động lực ở các nước đang đấu tranh giành độc lập.
-         Công cuộc giải phóng dân tộc chỉ có thể thực hiên bằng sự nỗ lực tự giải phóng dân tộc:
          
§  Hồ Chí Minh vận dụng những nguyên lý mà C.Mác đưa ra: " Sự giải phóng của giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được bởi giai cấp công nhân" để đưa đến khẳng định: " Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em".Vì thế nên công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa phải do chính các dân tộc đó thực hiện.

2.Quan hệ của cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc:
      - Cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc:
·        "Chủ nghĩa bản là một con đa một cái vòi bám vào giai cấp sản chính quốc một cái vòi khác bám vào giai cấp sản các thuộc đa. Nếu ngưi ta muốn giết con vật ấy, ngưi ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu ngưi ta ch ct một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tc hút máu của giai cấp sản; con vật vẫn tiếp tục sống cáivòi bị ct đứt li sẽ mọc ra".
·        Hồ Chí Minh nhận thấy sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là dựa trên sự bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân các dân tộc thuộc địa vì cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản phải kết hơp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa thì  mới tiêu diệt được triêt để , hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
-         Quan hệ bình đẳng với cách mạng vô sản:
·        "Vận mnh ca giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt vận mệnh ca giai cấp vô sản ở các c đi xâm lưc thuộc địa gắn chặt với vận mệnh ca giai cp b áp bc c thuộc địa... nọc độc và sức sng ca con rn đc tư bản ch nghĩa đang tập trung các thuộc địa hơn là ở chính quc", nếu xem thường cách mạng thuộc đa tức là "mun đánh chết rắn đng đuôi".
-         Cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước:
§  Khi phân tích tình hình ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận ra: thuộc địa chính à một mắt xích yếu của chủ nghĩ tư bản, hơn nữa nhân dân các nước thuộc địa có một khả ngăng cách mạng cực kỳ to lớn họ sẽ vùng dậy khi có thời cơ. Như vậy cách mạng giải phóng dân tộc có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc vấu đó có thể giúp đỡ những người an hem của mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.