Một số đề thi tham khảo môn Quản trị chất lượng
Đề 21:
1) bình luận quan điểm Để "nâng cao chất
lượng, hạ giá thành" các nhà sxkd phải tìm mọi cách giảm chi phí đầu vào
2) bình luận câu nói của thủ tướng Phan Văn Khải:
"chúng ta chấp nhận cạnh tranh bằng con đường nâng cao chất lượng sản phẩm".
để thực hiện chiến lược này, doanh nghiệp VN phải làm gì?
3) bài tập tự hiệu chuẩn dụng cụ đo
Wednesday, August 26, 2015
Tuesday, August 25, 2015
Ôn thi Marketing căn bản - Đề số 1
Đáp án chỉ mang tính chất
tham khảo.
Câu 1 (4,5 điểm): Chọn phương án trả lời đúng nhất (Không cần chép lại câu hỏi.
Các câu Đúng/Sai không cần giải thích)
1. Làm việc với phóng viên để viết một bài báo hay về công ty của bạn là một ví dụ về hoạt động:
a. Quan hệ công chúng - Đáp án
b. Bán hàng cá nhân
c. Quảng cáo
d. Xúc tiến hỗn hợp
2. Hãng mỹ phẩm Revlon nhận ra rằng khi một người phụ nữ mua một thỏi son thì người đó không chỉ đơn thuần là mua màu của son mà còn mua niềm hy vọng. Hãng mỹ phẩm này đã nhận ra cấp độ nào trong các cấp độ cấu thành sản phẩm sau đây:
a. Sản phẩm hiện thực
b. Những lợi ích cốt lõi - Đáp án
c. Sản phẩm tiện lợi
d. Sản phẩm bổ sung
1. Làm việc với phóng viên để viết một bài báo hay về công ty của bạn là một ví dụ về hoạt động:
a. Quan hệ công chúng - Đáp án
b. Bán hàng cá nhân
c. Quảng cáo
d. Xúc tiến hỗn hợp
2. Hãng mỹ phẩm Revlon nhận ra rằng khi một người phụ nữ mua một thỏi son thì người đó không chỉ đơn thuần là mua màu của son mà còn mua niềm hy vọng. Hãng mỹ phẩm này đã nhận ra cấp độ nào trong các cấp độ cấu thành sản phẩm sau đây:
a. Sản phẩm hiện thực
b. Những lợi ích cốt lõi - Đáp án
c. Sản phẩm tiện lợi
d. Sản phẩm bổ sung
Thảo luận dường lỗi CMĐCS “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”
MỞ ĐẦU
Ngày nay,
trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mục tiêu quan trọng nhất
là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nguồn nhân lực chính
là yếu tố quan trọng nhất. Nguồn nhân lực kết hợp cùng với thành tựu khoa học
kỹ thuật sẽ góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước thành một nước phát triển.
Là một nước đang ở trình độ phát triển thấp kém như nước ta hiện nay chưa thể
xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao dần chất lượng của người
lao động, phát huy nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu lớn lao
của toàn dân tộc, đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế chúng ta
cần phải tìm hiểu vấn đề “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”
Đề thi kỹ năng tiếng anh 1.3 (VCU)
Đáp án chỉ mang tính chất tham khảo, giúp các bạn ôn thi tốt hơn để có điểm số cao trong môn kỹ năng tiếng anh 1.3 tại Đại học Thương Mại. Chúc bạn ôn thi và thi tốt :)
Đề 21
1.buring coal is an .... way of heating a house.Gas is much more expensive.
A economic
1.buring coal is an .... way of heating a house.Gas is much more expensive.
A economic
B
economy
C
economica
l D
uneconomical
2.one of the new salesmen has .... me to buy a new car
A suggested
2.one of the new salesmen has .... me to buy a new car
A suggested
B
persuaded
C
argued
D resulted
3.the board of directors was unhappy because we didn't meet the .... for opening the office by 2nd september
A schedule
3.the board of directors was unhappy because we didn't meet the .... for opening the office by 2nd september
A schedule
B
research
C
deadline
D
costs
4.we apologized .... our teacher for not having done all the home work assigned by her last week
A for
4.we apologized .... our teacher for not having done all the home work assigned by her last week
A for
B with
C about
D to
5..... means an idea for a new product,which is tested with target consumers before the actual product is developed
A product concept
5..... means an idea for a new product,which is tested with target consumers before the actual product is developed
A product concept
B Product features
C
product launch
D
product life cycle
6.Our competitors are exploiting our weaknesses to increase their market.....from 25% to 35%
A segment
6.Our competitors are exploiting our weaknesses to increase their market.....from 25% to 35%
A segment
B
share
C
segmentation
D
leader
7.the government is offering new tax incentives as well as making a renewed efford to reduce....
A labour force
7.the government is offering new tax incentives as well as making a renewed efford to reduce....
A labour force
B
inflatinon rate
C
interset rate
D
government bureaucracy
8.there are some solutions to make products.... and stay ahead in today's market
A hing_tech
8.there are some solutions to make products.... and stay ahead in today's market
A hing_tech
B best_selling
C
long_lasting
D
hard_wearing
9.this director is my partner to....I owe more than I can say
A that
9.this director is my partner to....I owe more than I can say
A that
B Who
C Whom
D
Whose
10."Can you collect information about possible locations for the new office tomorrow"The boss asked ... collect information about possible locations for the new office the next day
A if I can
10."Can you collect information about possible locations for the new office tomorrow"The boss asked ... collect information about possible locations for the new office the next day
A if I can
B
whether he could
C if I
could
D
whether could I
11.What should you consider when deciding... up your out business
A to start
11.What should you consider when deciding... up your out business
A to start
B
start
C
staring
D
started
12.how to get .... is probably one of the most often asked question in the working world
A promote
12.how to get .... is probably one of the most often asked question in the working world
A promote
B to promote
C promotion
D
promoted
13.a good manager should..... to a deputy as much as possible
A répond
13.a good manager should..... to a deputy as much as possible
A répond
B
delegate
C
communicate
D
listen
14.I wish I .... that was my colleague's birthday,I .... her a present
A had known/would buy
14.I wish I .... that was my colleague's birthday,I .... her a present
A had known/would buy
B
know/will buy
C
knew/would have bought
D had
known/would have bought
15......to get the railroad station?45'
A how far do you take
15......to get the railroad station?45'
A how far do you take
B how
often do you do
C how long does it take
C how long does it take
D how
fast does it take you
Monday, August 24, 2015
Đề tài thảo luận học phần Thương Mại Điện Tử Căn Bản - TMĐTCB
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN TMĐTCB
|
TT
|
NỘI DUNG
|
NHÓM
|
|
Đề 1
|
Tìm hiểu mô
hình kinh doanh của website Vatgia.vn. Nghiên cứu những thành công và hạn chế
của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế
đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
|
1 và 2
|
|
Đề 2
|
1.
Tìm hiểu mô hình kinh doanh của Công ty Cổ
phần phát thanh và truyền hình Hà Nội (website 25h.vn). Nghiên cứu những
thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những
thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
|
3 và 4
|
|
Đề 3
|
Tìm
hiểu mô hình kinh doanh TMĐT của Ngân hàng Teckcombank. Nghiên cứu những
thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những
thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
|
5 và 6
|
|
Đề 4
|
Tìm
hiều mô hình kinh doanh của Công ty cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình?
Nghiên cứu những thành công và hạn chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra
nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
|
7 và 8
|
|
Đề 5
|
Tìm
hiểu mô hình thanh toán của Bảo Kim. Nghiên cứu những ưu điểm và hạn chế của
mô hình này? Chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục?
|
9 và 10
|
|
Đề 6
|
Tìm
hiều mô hình kinh doanh của Chợ điện tử. Nghiên cứu những thành công và hạn
chế của mô hình kinh doanh này? Chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn
chế đó? Đề xuất giải pháp khắc phục?
|
11 và 12
|
Tuesday, August 18, 2015
Đề cương ôn thi môn các phương pháp nghiên cứu khoa học
Đề Cương NCKH
Câu 1:trình bầy quy trình NCKH
Câu 2: Vấn đề nghiên cứu,phân loại
các vấn đề nghiên cứu? lấy VD về các vấn đề nghiên cứu.
Câu 3: phương pháp xử lý thử nghiệm và đơn vị thử nghiệm
Câu 4: ý nghĩa của TK chọn mẫu. Trình bầy các phương pháp
chon mẫu?
Câu 5: Ý nghĩa của sai số đối với XĐ quy mô mẫu?
Câu 6: Trình bầy các loại thang đo
và lấy VD các loại thang đo?
Câu 7: Ưu điểm và cách sử dụng thang đo tỷ lệ?
Câu 8: phân biệt, kiểm tra tính hiệu
lực và mức độ tin cậy?
Câu 9: k/n thao tác hóa? Lấy VD
Câu 10: Thiết kế thang đo laiker? Trình bày quy trình?
Câu 11: ưu điểm phương pháp quan sát về ứng dụng vào TMĐT.?
Câu 12: Nhược điểm
phương pháp phỏng vấn về cách thức triển khai ?
Câu 13: các tiêu chuẩn đánh giá 1 bảng các câu hỏi?
Câu 15: phân tích dữ liệu thu thập xử lý dữ liệu..
Đề 7 :
1.
Nêu các pp chọn mẫu ngẫu nhiên. Cho ví dụ?
2.
Phân tích mqh của ktra tính hiệu lực và ktra
tính tin cậy. Ý nghĩa của ktra tính tin cậy.
Đề 8:
1.
Pb thang đo thứ bậc và thang đo khoảng. Cho ví dụ?
2.
Có những loại vấn đề nghiên cứu nào? Ý nghĩa của
đề tài nghiên cứu? Phân loại, cho ví dụ?
Ôn thi kỹ năng tiếng anh 1.5 (phần tiếp theo)
Vocabulary:
A-
1. able (adj) / ‘eibl/ [be + able + to do smt]
2. academic (adj)/ academy
3. advertisement/ advertising/ advertise
4. advice/ advise
5. ambition/ ambitious
6. application /application on/ apply for
7. attraction/ attractive
8. agreement
B-
C-
1. carefulness/ careful (adj)/ carefully (adv)
2. collection / collector
3. competition/ competitor/ competitive (adj)/ competitiveness/ competitively (adv)/ compete (verb)
4. confidence/ confident (adj)
5. creation/ create (verb)/ creative (adj)/ creativeness/ creatively (adv)
D-
1. decision / decide = make a decision = take a decision
2. difference (between A and B/ in smt) / different (from/ to/ than sb/ smt)
3. difficulty / difficult
E-
1. economy/ economic/ economize/ economical
2. employment/ employer/ employee/ unemployment/ employ/ unemployable/ unemployed/ employable
3. experience (in/ of)
F-
1. freelancer / freelance (adj)
2. friend/ friendly (adj)
3. fortune
G-
H-
I-
1. importance/ important (adj)
2. improvement / improve (verb)
3. industry/ industrial (adj)
4. intend (verb)/ intendment
5. interview/ interviewer
6. investment/ invest (verb)/ investor
J-
K-
L-
1. luck/ lucky/ luckily/ luckless
M-
1. management/ manager/ manage
2. manufacturing/ manufacture
N-
O-
1. opinion
2. opportunity
3. organization (-isation)/ organize (verb)
P-
1. product/ production/ producer/ produce
2. practicality/ practice/ practical (adj)/ practically (adv)
Q-
1. qualification(s)/ qualify (verb)
2. quality
R-
1. reason/ reasonable (abj)
2. referee/ reference
S-
1. satisfaction/ satisfied (adj)
2. sacrifice
3. success/ successful (adj)/ successfully (adv)/ succeed (verb)
4. stress/ stressful/ stressed
A-
1. able (adj) / ‘eibl/ [be + able + to do smt]
2. academic (adj)/ academy
3. advertisement/ advertising/ advertise
4. advice/ advise
5. ambition/ ambitious
6. application /application on/ apply for
7. attraction/ attractive
8. agreement
B-
C-
1. carefulness/ careful (adj)/ carefully (adv)
2. collection / collector
3. competition/ competitor/ competitive (adj)/ competitiveness/ competitively (adv)/ compete (verb)
4. confidence/ confident (adj)
5. creation/ create (verb)/ creative (adj)/ creativeness/ creatively (adv)
D-
1. decision / decide = make a decision = take a decision
2. difference (between A and B/ in smt) / different (from/ to/ than sb/ smt)
3. difficulty / difficult
E-
1. economy/ economic/ economize/ economical
2. employment/ employer/ employee/ unemployment/ employ/ unemployable/ unemployed/ employable
3. experience (in/ of)
F-
1. freelancer / freelance (adj)
2. friend/ friendly (adj)
3. fortune
G-
H-
I-
1. importance/ important (adj)
2. improvement / improve (verb)
3. industry/ industrial (adj)
4. intend (verb)/ intendment
5. interview/ interviewer
6. investment/ invest (verb)/ investor
J-
K-
L-
1. luck/ lucky/ luckily/ luckless
M-
1. management/ manager/ manage
2. manufacturing/ manufacture
N-
O-
1. opinion
2. opportunity
3. organization (-isation)/ organize (verb)
P-
1. product/ production/ producer/ produce
2. practicality/ practice/ practical (adj)/ practically (adv)
Q-
1. qualification(s)/ qualify (verb)
2. quality
R-
1. reason/ reasonable (abj)
2. referee/ reference
S-
1. satisfaction/ satisfied (adj)
2. sacrifice
3. success/ successful (adj)/ successfully (adv)/ succeed (verb)
4. stress/ stressful/ stressed
Lession
2:
1.
Vocabulary:
-
Difference
(n) ~ [difference
between A and B]
+ Differ (v) [differ from]
+ Different (adj) [ different
from/to/than (sth, sb)...]
-
Product
(n)
+ production (n)
+ producter (n)
+ productive (adj)
+ productiveness (n)
+ productivity (n)
+ productively
-
Qualification
(n)
+ qualify (v)
+ qualified (adj)
-
Application
(n) [!: Always be “applications”]
+ application form = “đơn xin
việc”
+ apply (v) [ apply = “ứng dụng”
nhưng: apply for = “ xin việc “]
-
Freelancer
(n)
+ freelance (adj)
Go
freelance = work freelance = be self-employed
+ freelance ## self-employed
-
Truth
(n)
+ true (adj)
-
References
(n)
+
referees
(n)
Friday, August 14, 2015
Thảo luận tư tưởng hồ chí minh
MỤC
LỤC:
Vấn
đề 1: Cơ sở hình thành TTHCM, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất
cách mạng và khoa học của TTHCM? Tại sao?
Vấn
đề 2:Tư
tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức Cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó vào
xây dựng đạo đức,lối sống,của SV hiện nay.
VẤN ĐỀ 3: Bằng
lý luận và thực tiễn hãy phân tích và chứng minh luận điểm :” Cách mạng giải
phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng
lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Vấn
đề 1:
Cơ sở hình thành TTHCM, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách
mạng và khoa học của TTHCM? Tại sao?
I. Cơ sở hình thành TTHCM
I. Cơ sở hình thành TTHCM
1. Nhân
tố khách quan
TTHCM không phải là sản phẩm chủ quan,
phản ánh tâm lý, nguyện vọng của nhân dân VIệt Nam
đối với lãnh tụ kính yêu của
mình. TTHCM là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách
quan và sự giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng đặt ra từ đầu thế kỷ XX đến nay.
TTHCM được hình thành
dưới tác động , ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử-xã hội cụ thể của dân tộc
và thời đại mà Người đã sống và hoạt động. Thiên tài HCM là ở chỗ Người đã nắm
bắt chính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạng
đúng đắn cho dân tộc mình.
1.1
Bối
cảnh lịch sử hình thành TTHCM
1.1.1 Tình
hình thế giới
HCM bước vào vũ đài chính trị khi chủ
nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã bước sang giai đoạt đế quốc chủ nghĩa. Năm
1912, Hốp-xơn ( Người Anh) đã mô tả tường tận đặc điểm kinh tế là các nước lớn
xâm chiếm thuộc địa và chia nhau xong đất đai thế giới. Đây là đặc điểm liên
quan trực tiếp đến việc hình thành tư tưởng HCM sau này. Theo Lênin, thế giới
phân chia đa số (70%) các dân tốc bị áp bức, số ít (30%) các dân tốc đi áp bức.
Đặc điểm chung là diện tích và dân số các thuộc địa lớn gấp nhiều lần so với diện
tích và dân số các nước chính quốc. Đây là tư tưởng cơ bản của Quốc tế cộng sản
và là cơ sở để chỉ đạo cách mạng thế giới. Tại Đại hội V quốc tế cộng sản
(1924) HCM đã đưa ra con số đầy thuyết phục như: thuộc địa của Anh lớn gấp 252
lần diện tích nước Anh, dân số thuộc địa Anh lớn gấp 8,5 lần dân số nước Anh
Bên cạnh mâu thuẫn vốn có là mâu thuẫn
giữa Tư sản và Vô sản, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang độc
quyền hình thành hệ thống thuộc địa làm nảy sinh mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa
các nước thuộc địa và các nước Chủ nghĩa Đế quốc, phong trào giải phóng dân tộc
dâng lên mạnh mẽ nhưng chưa ở đâu giành được thắng lợi. Chủ nghĩa Mác – Leenin
phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập và phong trào cách mạng thế giới, trở
thành hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại.
Chủ nghĩa tư bản phát triển không đều, một
số nước Tư bản gây chiến tranh chia lại thuộc địa làm đại chiến Thế giới 2 nổ
ra, Chủ nghĩa đế quốc suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tháng 10 nổ
ra và thành công, mở thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội,
làm phát sinh mâu thuẫn mới giữa chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Xã hội.
Năm 1917, Cách mạng tháng mười Nga thắng
lợi mở ra thời đại mới- thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
thế giới. Sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản làm nảy sinh mâu thuẫn thời đại:
CNXH và CNTB. Quốc tế Cộng sản là trung tâm tập hợp lực lượng cách mạng và chỉ
đạo cách mạng thế giới. Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin có vai trò quan trọng đối
với sự hình thành tư tưởng HCM và tạo tiền đề bỏ qua CNTB lên CNXH ở Việt Nam.
Tư tưởng HCM được hình thành dần dần từ
cảm tính đến lý tính nhằm tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Việc
xuất hiện TTHCM là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam và do lịch
sử của cách mạng Việt Nam quy định.
1.1.2 Tình
hình Việt Nam
·
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX
Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược
là xã hội phong kiến độc lập, nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Chính quyền nhà
Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động…không mở ra
khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới.
Vì vậy, đã không phát huy được những thế mạnh của dân tốc và đất nước, không tạo
ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm
lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
(1858) và hiệp định Patonot (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam bước sang giai
đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trong long xã hội thuộc
địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ mà
là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng them đen tối.
Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước…lãnh
đạo họ là các sĩ phu van than mang ý thức hệ phong kiến nhưng đều không thành
công: như Trương Định, Đồ Chiểu, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, Tôn Thất
Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám…
Sang đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam có sự
phân hóa sâu sắc: giai cấp CN, Tư sản dân tốc, tiểu tư sản ra đời, các cuộc cải
cách dân chủ tư sản ở Trung Quốc của Khang Hiểu Vi, La Khải siêu ( dưới hình thức
Tân thư, tân sinh) tác động vào Việt Nam làm cho phong trào yêu nước chống Pháp
chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản gắn với phong trào Đông Du, Việt Nam
Quang Phục Hội của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn
Quyền, Duy Tân của Phan Chu Trinh…do các sĩ phu phong kiến lãnh đạo. Nhưng do bất
cập với xu thế lịch sử nên đều thất bại.
Tình hình đen tối như không có đường ra.
Chính lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện,
Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào giải phóng dân tốc
là : các phong trào giải phóng dân tộc đều không gắn với tiến bộ xã hội. Nguyễn
Ái Quốc nảy ra ý định ra đi tìm đường cứu nước- con đường đưa Nguyễn Ái Quốc đến
với TTHCM: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giải phóng dân tộc phải đi theo
con đường mới. Sự xuất hiện TTHCM là một tất yếu, đáp ứng nhu cầu lịch sử của
cách mạng Việt Nam.
1.2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2.1
Giá
trị truyền thống dân tộc
Dân tộc Việt Nam trong
hang nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn
hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp, cao quý.
·
Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý
chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Từ văn hóa dân gian đến văn
hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sang ngời trong lịch sử
: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,…đều đã phản ánh chân lý
đó một cách hùng hồn. Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy suốt trường kỳ lịch
sử Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt
Nam đều được tiếp nhận, khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó. Đó là
chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa và tinh thần Việt Nam.
·
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc
nên bởi cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, của dân tộc ta.
Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý, triết lý sống, niềm tự hào của con người
Việt Nam. Bởi vậy, ở mỗi người dân Viết Nam gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc,
của dân tộc thì chủ nghĩa yêu nước ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến
thành một sức mạnh thúc đẩy mình vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, mọi thử
thách gian nan. Chính từ thực tế, Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý ấy: “ Dân ta
có một long nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một
làn song vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước, cướp nước ”. Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam của chủ nghĩa yêu nước mang tính cộng đồng ấy đã nhân sức mạnh của chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy
nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời HCM- Nguyễn Ái Quốc, là cơ sở dẫn Người đến
với chủ nghĩa Mác- Lênin, tiếp thu lý luận cách mạng và khoa học đó, để thực hiện
sự nghiệp giải phóng dân tộc, hoài bão của các thế hệ cách mạng Việt Nam. “ Lúc
đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi
tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Và khi Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh
tìm được con đường cứu nước đúng đắn thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lại được
nâng lên một tâm cao mới: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con
người.
·
Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn
kết, tương thân, tương ái, “ lá lành đùm lá rách” trong hoạn nan, khó khăn.
Truyền thống này cũng được hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ
hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại
xâm. Người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa
tối đèn có nhau. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa về
giai cấp, truyền thống này vẫn bền vững. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa,
phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng” ( đồng
tình, đồng lòng, đồng sức, đồng minh).
·
Truyền thống đoàn kết, đoàn kết là sự gắn
bó, hợp tắc với nhau để tạo nên sức mạnh. Truyền thống đoàn kết được hình thành
cùng với sự hình thành cùng với sự hình thành của dân tộc Việt Nam và là nguồn
cội của sức mạnh dân tộc Việt: đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng và dòng họ,
đoàn kết trong cộng đồng làng xã, đoàn kết quốc gia dân tộc, …
·
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền
thống lạc quan yêu đời. Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh
của bản thân minh, dân tộc mình, tin vào sự tất thắng cuẩ chân lý, chính nghĩa.
Hồ Chí Minh chính là hiện thân của truyền thống lạc quan đó.
·
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù,
dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời cũng là một
dân tộc ham học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng mở rộng cửa văn hoa tinh hóa của
nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương đông đến tư tưởng văn hóa hiện đại của
phương Tây. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc,
tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của Người thành những giá trị
của riêng mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống
đó.
1.2.2 Tinh
hoa văn hóa nhân loại
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình
khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững
vàng. Khi ra nước ngoài, Người không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng tinh hoa
văn hóa của nhân loại. Chính điều đó đã làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, một
con người tượng trưng cho sự kết hợp hoài hòa văn hóa Đông- Tây.
·
Văn hóa Phương Đông: Người đã tiếp thu
tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn hóa phương Đông.
-
Trước hết nói về Nho giáo: Nho giáo nói
chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng
triết lí hành động, lí tưởng về một xã hội bình trị. Đặc biệt Nho giáo đề cao
văn hóa, Lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến
bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh phê phán Nho
giáo có tư tưởng tiêu cực duy tâm, lạc hậu, như bảo vệ chế độ phong kiến, phân
chia đẳng cấp- quân tử và tiểu nhân, trọng nam khinh nữ, chỉ đề cao người đọc
sách. Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất nhiều dựa trên nền tảng chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam.
-
Tiếp theo là về Phật giáo: Phật giáo du
nhập và Việt Nam rất sớm. Ngay khi Nho giáo trở thành quốc giáo, Phật giáo còn ảnh
hưởng rất sâu sắc trong nhân dân, để lại nhiều dấu ấn cho văn hóa Việt Nam, từ
tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng đến phong tục tập quán, lối sống,…Bên cạnh những mặt tiêu cực vốn có của Tôn giáo, Phật
giáo cũng có rất nhiều ưu điểm như: tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu
nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị,
chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác chống lại mọi
phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng Phật giáo và
Việt Nam gặp chủ nghĩa yêu nước đã hình thành nên Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam,
chủ chương không xa đời sống mà gắn bó với nhân dân, đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ
thù dân tộc. Có thể nói những mặt tích cực của Phật giáo đã đi vào đời sống
tinh thần dân tộc và nhân dân lao động.
Và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phật
giáo vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh vào Việt Nam. Hồ Chí Minh tiếp
thu và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu
nạn, thương người như thể thương thân…; là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản
dị, chăm lo làm việc thiện; là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng
cấp; là việc đề cao lao động, chống lười biếng “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất
thực” là chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với nước,
tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc.
Ngoài
ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa nhiều tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông
như: Lão tử, Mặc tử, Quản tử,…đặc biệt là tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn
(dân tộc độc lâp, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc).
Người
viết: “ Học thuyết Khổng Tử” có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn
giáo Giê-xu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. chủ nghĩa Mác-Lênin có ưu điểm
là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính
sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.Khổng Tử, Giê xu, Mác, Tôn Dật Tiên
chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người,
mưu lợi cho xã hội”. nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một
chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người
bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy.
Là
người mác xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khai thác những yếu tố tích
cực của tư tưởng, văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước
ta.
·
Cùng với những tư tưởng triết học phương
Đông, Hồ Chí Minh còn nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và
cách mạng phương Tây.
Hồ
Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nên văn hóa dân chủ và cách mạng phương
Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền
mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước
ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp
Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập
tự chủ. Người đã nhìn thấy mặt trái của “ lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái.
Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà khái sáng Pháp như: Voltaire,
Rousso, Montesquieu.
Thiên
chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh là văn hóa. Điểm tích cực
nhất của thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc
Đông- Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “ chỉ có
những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của
các đời trước để lại”.
Tóm
lại, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu trí tuệ của mình
bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để từ tầm
cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn kế thừa và đổi mới, vận dụng và
phát triển.
1.2.3 Chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ
nghĩa Mác-Lênin là đỉnh cao trí tuệ nhân loại bao gồm 3 bộ phận cấu thành:
Triết
học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng, nhân
sinh quan, khoa học, Cách Mạng, thấy được những quy luật vận động phát triển của
thế giới và xã hội loài người.
Kinh
tế chính trị học vạch rõ các quan hệ xã hội được hình thành phát triển gắn với
quá trình sản xuất, thấy được bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với
CNCN, xóa bỏ bóc lột gắn liền với xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
và sự chuyển biến tất yếu của xã hội loại
người từ chủ nghĩa Tư bản lên chủ nghĩa Cộng sản.
Chủ
nghĩa Xã hội Khoa học vạch ra quy luật phát sinh, hình thành, phát triển của
hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, những điều kiện, những tiền đề,
nguyên tắc, con đường, học thức, phương pháp của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động để thực hiện sự chuyển biến xã hội từ chủ nghĩa Tư bản lên chủ nghĩa
Xã hội, Cộng sản.
Như
vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin với bản chất cách mạng và khoa học của nó giúp Người
chuyển biến từ Chủ nghĩa yêu nước không có khuynh hướng rõ rệt thành người Cộng
sản, chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc, gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, thấy vai trò của quần chúng nhân dân, sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân, liên minh công- nông- trí thức và vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản trong cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã
hội, giải phóng con người, đảm bảo thắng lợi cho chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng
sản.
Chủ
nghĩa Mác-Lênin là một bộ phận tinh túy nhất của văn hóa nhân loại. Nó mang
tính khoa học sâu sắc và cách mạng triệt để. Chính thế giới quan và phương pháp
luận Mác-Lênin đã giúp Người tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của
mình mà tìm ra con đường cứu nước. Vì vậy mà Người từ người đi tìm đường cứu nước
đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng
Mác-Lênin, những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những
phạm trù cơ bản của lý luận Mác-Lênin.
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh không những là sự vận
dụng sáng tạo mà còn là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, làm phong phú thêm
kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
-
Lý luận Mác-Lênin là một học thuyết cách
mạng và khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.
Chính
thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến
thức và kinh nghiệm thực tiễn của mình mà tìm ra con đường cứu nước. Ảnh hưởng
sâu sắc vào quyết định ấy đã thể hiện trong câu nói của Người : “ chủ nghĩa
Mác-Lênin là cái cẩm nang thần kì”, hoặc: “ lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước
chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo quốc tế
3. Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực
tế, dần dần tôi hiểu rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới”. “ bây giờ học
thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,
cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” và “ chính do cố gắng vận dụng lời dạy của
Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam mà chúng tôi đã chiến đấu
và dành được thắng lợi to lớn”.
2.
Nhân
tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh:
·
Hồ Chí Minh là người có đầu óc thông
minh sáng suốt, năng lực tư duy độc lập sáng tạo, học vẫn uyên bác, năng lực
phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp sâu sắc trong suốt việc nghiên cứu, tìm
hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới.
·
Có ý chí nghị lực kiên cường, những phẩm
chất được tôi luyện đã quyết định việc Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, chuyển
hóa, phát triển những tinh hoa của dân tộc, thời đại thành những tư tưởng đặc sắc
độc đáo của mình.
·
Có tấm lòng yêu nước, thương dân, thương
yêu những con người cùng khổ vô bờ bến, một chiến sĩ cộng sản quả cảm, nhiệt
thành sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, nhân dân, dân tộc và nhân loại.
·
Người không ngừng học tập nhằm chiếm
lĩnh tri thức đồ sộ của nhân loại, tiếp thu kinh nghiệm, bề dày của phong trào
cộng sản và chủ nghĩa Quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc. Nhân cách, phẩm
chất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin và tiếp thu được các giá trị văn hóa nhân loại.
II. Nhân
tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.
Chủ
nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới
quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn
gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng
của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lenin ở thời đại các dân tộc
bị áp bức vùng lên độc lập tự do. “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta…là mặt
trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa
xã hội…”. Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống các quan điểm lý luận và phương
pháp khoa học được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của
tinh hoa văn hóa mà nhân loại đã sáng tạo ra.
·
Mác-Ănghen cũng như Lênin đã kế thường
có chọn lọc những thành tựu khoa học, những giá trị tư tưởng và văn hóa, những
tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội mà nhân loại đã đạt được; bằng thiên tài của
trí tuệ cộng với sự lao động nghiêm túc, vượt lên mọi trở ngại, khó khăn, những
cám dỗ của vật chất và vòng cương tỏa hà khắc của chế độ chính trị đương thời,
các ông đã để lại cho nhân loại một di sản vô cũng quý báu, một cơ sở lý luận
khoa học để giải phóng con người, giải phóng xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, tự
do và hạnh phúc cho con người.
·
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất
từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới thoát khỏi
tình trạng bị nô dịch và bóc lột, thoát khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt.
đồng thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải
phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại
cho họ niềm tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình.
·
Học thuyết đó cũng đã chỉ ra quy luật của
sự giải phóng và phát triển xã hội. đó là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất; về sự chuyển biến từ hình thái kinh tế-xã hội này
sang hình thái kinh tế-xã hội khác không phải diễn ra một cách tự phát mà phải
thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt. Từ đó Mác-Lênin đã trực tiếp
nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật
về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
như một tất yếu thông qua cuộc cách mạng xã hội.
·
Bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện ở chỗ: đó là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất
biến mà nó đòi luôn được bổ sung, tự đổi mới, tự phát triển trong dòng phát triển
trí tuệ của nhân loại.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về sự
phát triển, bao hàm cả sự phát triển của chính học thuyết đó với tinh thần phê
phán và tự phê phán. Bởi lẽ, có nhiều vẫn đề mà các ông chưa có điều kiện, thời
gian nghiên cứu, làm sáng tỏ hoặc do hạn chế của lịch sử nên những luận điểm của
các ông cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Các ông đòi hỏi những
người cách mạng đời sau bổ sung và phát triển làm cho các học thuyết đó hoàn chỉnh.
Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị
bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học
và nhân đạo, chủ nghĩa Mác-Lenin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện:
-
Quyết định bản chất thế giới quan khoa học
thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
-
Quyết định phương pháp hành động biện chứng
của Hồ Chí Minh.
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin
ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, “muốn cách mạng thành công phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lênin”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là “ kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và điều kiện cụ thể ở nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tôc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, “muốn cách mạng thành công phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lênin”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là “ kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và điều kiện cụ thể ở nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tôc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.
2.
Con
người Hồ Chí Minh.
2.1.
Khả
năng tư duy và trí tuệ của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã không người quan sát, nhận
xét thực tiễn, làm phong phú thêm hiểu biết của mình, hình thành những cơ sở
quan trọng để tạo dựng lên những thành công trong lĩnh vực hoạt động lý luận.
Người cũng đã khám phá ra các quy luật vận
động xã hội…để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo thực tiễn và được
kiểm nghiệm trong thực tiễn. Nhờ vậy mà lý luận của Hồ Chí Minh mang giá trị
khách quan, cách mạng và khoa học.
2.2.
Phẩm
chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn
Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng
tạo là đặc trưng nổi bật, bao trùm nhất, điển hình cho phong cách tư duy Hồ Chí
Minh. Đặc trưng này được thể hiện ngay khi Người còn ngồi trên ghế nhà trường,
cho đến khi lựa chọn con đường cứu nước. Chính nét đặc sắc này đã làm cho phong
cách tư duy của Người vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại, vừa có giá
trị phổ biến, bền vững, vừa có tính độc đáo rất riêng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một
người giàu trí tuệ mà còn là một người có tình cảm, có ý chí, nghĩ lực phi thường.
Ở Người, ý chí, tình cảm cách mạng và tri thức khoa học thống nhất trong tư
duy, trong hành động và trong quá trình vạch ra đường lối cho cách mạng Việt
Nam.
Mọi suy nghĩ, sáng tạo của Người đều xuất
phát từ thực tiễn đất nước và thời đại. Xuất phát từ thực tiễn mà người đưa ra
những luận điểm đúng đắn nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một vĩ
nhân với một phong cách tư duy độc lập tự chủ sáng tạo gắn với thực tiễn là bởi
vì Người “Người đã biết làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những di sản quý báu
của văn hóa nhân loại. Người biết kế thừa các học thuyết một cách có phê phán,
chọn lọc, không bao giờ sao chép máy móc,cũng không bao giờ phủ định một cách
giản đơn mà có sự phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu tố tích cực,làm giàu
thêm vốn kiến thức và hành trang tư tưởng của mình”. Đặc trưng này làm cho Người
trở thành một nhà mác-xít với đầy đủ những yếu tố khoa học và biên chứng.
Quan điểm thực tiễn của Hồ Chí Minh thể
hiện rõ nét trong cách tiếp cận với các học thuyết cách mạng. Hồ Chí Minh luôn
coi các học thuyết chỉ là công cụ để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc và
đem lại hòa bình, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin, Hồ Chủ Tịch viết: “Tôi tham
gia Đảng xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy_(hồi đó tôi gọi các đông
chí của tôi như thế)_đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc
bị áp bức… Hồi ấy, trong các chi bộ của Đảng xã hội người ta đã bàn cãi sôi nổi
về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ 2, hay là nên tổ chức một thế giới thứ
hai rưỡi, hoặc tham gia quốc tế thứ 3 của Lênin?...Điều mà tôi muốn viết hơn cả-và
cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: Vậy thì cái
quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?... Trong một cuộc họp, tôi đã
nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả
lời: đó là Quốc tế thứ 3, chứ không phải là quốc tế thứ 2. Và một đồng chí đã
đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng
trên báo Nhân đạo…Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi,
sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình
trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo? “Hỡi đồng
bào bị đày đạo đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải
phóng chúng ta!”.
Quan điểm thực tiến càng rõ trong hoạt động
ngoại giao. Những ngày tháng đầu tiên sau Cách mạng tháng 8, để có thời gian củng
cố lực lượng chính quyền nhân dân còn non trẻ đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn
quốc tế, thêm bạn bớt thù, Hồ Chủ tịch chủ trương đối thoại, hòa hoãn, nhưng
kiên trì mục đích cuối cùng là độc lập dân tộc. Nhận rõ những khó khăn do thái
độ không thiện chí của Pháp và cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu tăng lên giữa các
cường quốc, Hồ Chủ tịch thậm chí từng có ý định từ chức để Bảo Đại thay mặt
Chính phủ thương thuyết nhằm đạt được độc lập dân tộc. chính nhờ đường lối khôn
khéo này mà chúng ta đấy được quân Tàu Tưởng ra khỏi miền Bắc và đạt được thỏa
thuận với Pháp tháng 3 năm 1946, trong đó Pháp “ Công nhận nước Cộng hòa Việt
Nam là một quốc gia tự do, có Chính Phủ, Quốc hội, Ngân khố, Quân đội, nằm
trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp” và như vậy đã xác lập
Chính phủ Hồ Chí Minh là “ chính phủ hợp
pháp duy nhất của Việt Nam”.
Hồ Chí Minh bàn nhiều đến đạo đức và vai
trò của đạo đức trong đấu tranh cách mạng. Người chỉ rõ: đạo đức là cái gốc của
cách mạng. người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm một thể
thống nhất giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với tài năng, giữa nói và làm,
giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một
bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức sống mãnh liệt, đã sớm
đi vào nhân dân, được nhân dân tiếp nhận. cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng góp có giá trị vào triết học về con người của
chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Tôi chỉ có một ham muốn, một
ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: thắng
không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô
cùng gian khổ: 2 lần ngồi tù, 1 lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất
sôi nổi, được đánh giá cao, cáo giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh
“như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng”. vượt qua được thử thách khổ ải,
tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm nghi kị còn day
dứt hơn nhiều. để kiên trì chân lí, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người
đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó.
Kết luận:
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí
Minh là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan và chủ quan, của truyền
thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. cùng với thực tiễn dân tộc và thời
đại được Hồ Chí Minh tổng kết, chuyển hóa sắc xảo, tinh tế với một phương pháp
khoa học, biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng Việt Nam hiện
đại. Chúng ta phải biết coi trọng, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh như
Đảng và Nhà nước đã phát động.
Vấn
đề 2:Tư
tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức Cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó vào
xây dựng đạo đức,lối sống,của SV hiện nay.
Phần
1. Mở đầu
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn
từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển
trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát
triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là sự
tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại,
cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động
cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách mạng
Phần
2. Nội dung
Chương
1. Vai trò và sức mạnh của đạo đức
I. Đạo đức là cái gốc của người mạng
Sau cách mạng tháng Tám 1945 thành
công, Chủ tịch Hố Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những
là “ bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh “, “ đè đầu cưỡi
cổ dân “ mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất
là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa
phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…,lo chiếm của công làm của
tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng
hơn việc công…
Vì vậy, - Từ rất
sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo
đức là gốc của người cách mạng.
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh,
Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu
là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với
người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội
mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một
cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng
và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng làm nền tảng, mới
hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” .
Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực
tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo
đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu
của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ
cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo
đức trong sáng của mình.
Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là
nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông
suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có
đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc
to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu
xa thì còn làm nổi việc gì”. Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ
thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ
rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh
mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm
nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.
Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh
trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy
thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn
xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo
đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy,
Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại
ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của
dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu,
dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến.
Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.
Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không
lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần
khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng
thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..
Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang
lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài
càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa
cách mạng đến thắng lợi.
Như vậy,
Hồ Chí Minh, nền đạo đức mới của dân tộc ta bắt đầu hình thành và phát triển
mạnh mẽ, thấm sâu vào đời sống, trở thành một bộ phận hết sức quan trọng khắc
họa diện mạo và đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, của Văn hiến Việt Nam hiện
đại. Nó đã trở thành vũ khí mạnh mẽ của Đảng và của nhân dân ta trong cuộc đấu
tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với
tất cả các dân tộc trên thế giới.
II. Đạo dức là nhân tố tạo nên sức
hấp dẫn cua CNXH
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của CNXH phải
là ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải
phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những
người cộng sản ưu tú,bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho
lý tưởng đó trở thành hiện thực.
Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản
công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không
chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những
phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô
địch.
Tấm
gương đạo đức trong sang của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thường của
Hồ Chí Minh chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam , mà còn cả
với nhân dân thế giới.
Chương
2. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng
I .
Trung với nước, hiếu với dân
“Trung” và “hiếu” vốn là những khái niệm đạo đức cũ chứa đựng nội dung hạn
hẹp: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn phận, trách nhiệm của dân
đối với vua, con đối với cha mẹ.
Hồ Chí Minh đưa vào khái niệm cũ một nội dung mới, mang tính cách mạng,
đó là trung với nước, hiếu với dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan
trọng hàng đầu.
Từ chỗ trung với vua, hiếu với cha mẹ đến trung với nước, hiếu với dân là
một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Hồ Chí Minh đã lật ngược quan
niệm đạo đức cũ, đạo đức Nho giáo, xây dựng đạo đức mới “như người hai chân
đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, nước là nước của dân và dân là người chủ của
nước. Vì vậy, “trung với nước, hiếu với dân” là thể hiện trách nhiệm với sự
nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên và phát triển của đất nước.
II.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức cũ,
được Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới.
Người chỉ ra rằng: phong kiến nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không thực
hiện; ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương
cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư là một biểu hiện sinh động của phẩm chất “trung với nước hiếu với dân”.
Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai. Kiệm là tiết kiệm vật
tư, tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ, không hoang phí. Liêm là trong sạch, không tham
lam tiền của, địa vị, danh tiếng. Chính là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn.
Các đức tính đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cần mà không kiệm giống như
một chiếc thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm. Cần, kiệm,
liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá,
hoa, quả mới là hoàn chỉnh.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất
cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây , Nam ,
Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người”3
Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì,
nếu cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm thì sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của cách mạng, ảnh hưởng đến uy tín
của Đảng. Mặt khác, những người trong các công
sở đều có nhiều hoặc ít quyền
hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến
thành sâu mọt của dân.
Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh
về tinh thần, sự văn minh tiến bộ của một dân tộc. Cần, kiệm, liêm, chính là
nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua yêu nước; là cái cần để làm
việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân
dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại.
Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ
quốc, vì đồng bào; là đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết,
trước hết. Thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết quét sạch
chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là chỉ muốn “mọi người vì mình” mà
không biết “mình vì mọi người”. Nó là một thứ giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn
cả giặc ngoại xâm. Nó là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen
truyền thống lạc hậu. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng
trăm thứ bệnh nguy hiểm, như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô,
lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao tự đại,
coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền… Tóm lại, “chủ
nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta.
Nó chờ dịp – hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi – để ngóc đầu dậy”. Chủ
nghĩa cá nhân là mối nguy hại cho cá nhân con người, cho một đảng và cả dân
tộc. Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là
vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi
người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân”4. Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Vì vậy thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng
lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Tuy nhiên, cần có nhận thức đúng đắn đâu là chủ nghĩa cá nhân, đâu là
lợi ích cá nhân. Hồ Chí Minh cho rằng: đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không
phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có cá tính riêng, sở trường
riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá
nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Theo quan
điểm của Hồ Chí Minh, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có
điều kiện để cải thiện đời sống của riêng mình, phát huy tính cách riêng và sở
trường riêng của mình.
III.
Thương yêu con người
Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là từ thực tiễn
đấu tranh cách mạng của các dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có
nhiều người, nhiều công việc, nhưng có thể chia thành hai hạng người: người
thiện và người ác, và hai thứ việc: việc chính và việc tà. Làm việc chính là
người thiện, làm việc tà là người ác. Từ đó, Người kết luận: những người bị áp
bức, bị bóc lột, những người làm điều thiện thì dù màu da, tiếng nói, chủng
tộc, tôn giáo có khác nhau, vẫn có thể thực hành chữ “bác ái”, vẫn có thể đại
đoàn kết, đại hòa hợp, coi nhau như anh em một nhà.
Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng
kiểu tôn giáo, mà luôn luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của
giai cấp vô sản, dành cho các dân tộc và con người bị áp bức, đau khổ.
Hồ Chí Minh thương yêu con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la
rộng lớn, vừa gần gũi thân thương đối với từng số phận con người. Hồ Chí Minh
luôn sống giữa cuộc đời và không có cái gì thuộc về con người đối với Hồ Chí
Minh lại là xa lạ. Người quan tâm đến tư tưởng, công tác, đời sống của từng
người, việc ăn, việc mặc, ở, học hành, giải trí của mỗi người dân, không quên,
không sót một ai, từ những người bạn thuở hàn vi, đến những người quen mới.
Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh luôn gắn liền với hành động cụ thể,
phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho con người.
IV.
Tinh thần quốc tế trong sang
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo
đức cộng sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân
và của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu sắc.
Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự
hằn thù, bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc. Người khẳng định: bốn
phương vô sản đều là anh em; giúp bạn là giúp mình; thắng lợi của mình cũng là
thắng lợi của nhân dân thế giới. Người đã góp phần to lớn, có hiệu quả xây đắp
tình đoàn kết quốc tế, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho
đối đầu, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình trên thế giới.
Chương
3. Nguyên tắc xây dựng và tu dưỡng đạo đức cách mạng
I. Nói
đi đôi với làm
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm. Người
quan tâm đặc biệt, hàng đầu tới vấn đề đạo đức. Người để lại nhiều bài viết,
bài nói về đạo đức và quan trọng hơn là Người thực hiện trước hết, nhiều nhất
những tư tưởng ấy. Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản, bàn
về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “nói thì phải làm”. Người
còn làm nhiều hơn những điều Người nói, kể cả việc làm mà không nói. Mỗi việc
làm, mỗi hành vi của Người đều tiềm ẩn những tư tưởng đạo đức sáng ngời. Đây là
một bài học quý giá cho mỗi chúng ta muốn tìm hiểu những tầng sâu bản chất của
tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thì không chỉ dừng lại ở những bài viết, bài
nói, mà phải khám phá những hành vi đạo đức của Người, nghiên cứu những bài
nói, bài viết của bạn bè quốc tế, những học trò của Người.
Tại sao nói phải đi đôi với làm, phải nêu
gương về đạo đức?
Đạo đức cách mạng là đạo đức luôn được nhận thức và giải quyết trên lập
trường của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của cách mạng. Điều này phân
biệt một cách rạch ròi với thói đạo đức giả, đạo đức của giai cấp bóc lột với
những đặc trưng bản chất là nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, nói một đằng,
làm một nẻo, đem lại lợi ích không phải cho quần chúng nhân dân lao động, mà
cho thiểu số những kẻ bóc lột.
Nói đi đôi với làm còn nhằm chống thói đạo đức giả. Sáu mươi năm qua, từ
khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, nơi này, nơi khác, trên
những mức độ khác nhau ở cán bộ, đảng viên ta vẫn còn tồn tại hiện tượng nói
không đi đôi với làm. Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ làm mất lòng tin của dân đối
với Đảng và chế độ mới. Ngay từ tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói tới những
kẻ “vác mặt làm quan cách mạng”. Sau này, trong nhiều lần bàn tới việc cần tẩy
sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh, Người chỉ rõ: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm
việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ
làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách
của Đảng và Chính phủ”.
Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là một nét đẹp của văn hóa phương
Đông. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu
tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn
văn tuyên truyền”6. Noi theo tấm gương của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh cũng đào tạo
các thế hệ cách mạng người Việt Nam không chỉ bằng lý luận cách mạng, mà bằng
chính tấm gương đạo đức cao cả.
Theo Hồ Chí Minh hơn bất kỳ một lĩnh vực nào khác, trong lĩnh vực đạo
đức đặc biệt phải chú trọng “đạo làm gương”. Làm gương có nhiều cấp độ, phạm vi
và hệ quy chiếu khác nhau. Ở đâu cũng có người tốt, việc tốt. Giai đoạn cách
mạng nào cũng cần có nhiều tấm gương. Tùy theo nhiệm vụ và tình hình cụ thể mà
tấm gương đó được biểu hiện ở những mặt nào, trong chiến đấu, lao động, học
tập, cuộc sống đời thường trong gia đình, ngoài xã hội… Việc bồi dưỡng, nêu
gương “người tốt, việc tốt” là rất quan trọng và cần thiết, không được xem
thường. Nhiều giọt nước hợp lại mới thành suối, thành sông, thành biển cả.
Không nhận thức được điều đó là “chỉ thấy ngọn mà quên mất gốc”. Xây dựng đạo
đức mới, nêu gương đạo đức phải rất chú trọng tính chất phổ biến, rộng khắp,
vững chắc của toàn xã hội và những hạt nhân “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.
II. Xây
đi đôi với chống
Làm cách mạng là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Xây dựng
đạo đức mới lại càng phải quan tâm điều này. Bởi vì trong Đảng và mỗi con
người, vì những lý do khác nhau, nên không phải “người người đều tốt, việc việc
đều hay”. “Mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm
cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất
dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”7. Mặt khác, con đường tiến lên chủ
nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cuộc chiến đấu khổng lồ.
Trong cuộc chiến đấu đó, có nhiều kẻ địch nhưng thường có ba loại: chủ nghĩa tư
bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm; thói quen và truyền thống lạc hậu
cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ; loại địch thứ ba
là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người
chúng ta; nó chờ dịp – hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi – để ngóc đầu dậy;
nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia.
Nhận thức như vậy để thấy rằng “đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn
cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh
giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có
như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng”8. Đối với
từng người, Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù
trong mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo, ít lòng tham muốn về vật chất, vị
công vong tư…
Chống và xử lý nghiêm là nhằm xây, đi liền với xây và muốn xây thì phải
chống. Mục đích cuối cùng là xây dựng con người có đạo đức và nền đạo đức mới
Việt Nam .
Vì vậy, phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài.
Giáo dục đạo đức phải phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng
lớp và trong từng môi trường khác nhau. Đồng thời, phải chú ý tới hoàn cảnh,
nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Xa rời thực tiễn và khư khư giữ lấy những nội
dung cũ khi thực tiễn đã vượt qua đều không phù hợp với quan điểm xây dựng đạo
đức của Hồ Chí Minh.
Xây dựng đạo đức có nhiều cách làm. Trước hết mỗi người và tổ chức phải
có ý thức tự giác trau dồi đạo đức cách mạng. Bản thân sự tự giác cũng là phẩm
chất đạo đức quý đối với từng người và tổ chức. Điều này càng cần thiết và có ý
nghĩa to lớn đối với Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi vì: “Một Đảng mà giấu
giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết
điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn
cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như
thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”9.
Xây đi đôi với chống trên cơ sở tự giáo dục, đồng thời phải tạo thành
phong trào quần chúng rộng rãi. Điều này thuộc quy luật của cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng nhân
dân tự xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh cũng viết rõ: Để chống lại những gì
đã cũ kỹ, hư hỏng và tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi, cần phải động viên toàn
dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn phát động phong
trào quần chúng rộng rãi và đem lại những hiệu quả thiết thực. Đó là phong trào
thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan
liêu; cuộc vận động “3 xây, 3 chống”: nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường
quản lý kinh tế – tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan
liêu.
III. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Tu dưỡng đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa
phương Đông. Hồ Chí Minh đã nói về ưu điểm của Khổng Tử là “vấn đề tu dưỡng đạo
đức cá nhân”. Quan điểm của Khổng Tử là “chính tâm, tu thân”. Có “tu thân” mới
làm được những việc lớn khác như “trị quốc, bình thiên hạ”. Hồ Chí Minh nói:
“Chúng ta phải nhớ câu “Chính tâm, tu thân” để “trị quốc bình thiên hạ”. Chính
tâm tu thân tức là cải tạo. Cải tạo cũng phải trường kỳ gian khổ, vì đó là một
cuộc cách mạng trong bản thân của mỗi người. Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh
thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ để trở thành con người mới không
phải là một việc dễ dàng… Dù khó khăn gian khổ, nhưng muốn cải tạo thì nhất
định thành công”10.
Đạo đức cách mạng, đạo đức mới khác đạo đức cũ ở chỗ nó gắn với thực
tiễn cách mạng và phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Vì vậy, việc rèn luyện,
tu dưỡng bền bỉ suốt đời phải như công việc rửa mặt hàng ngày là một trong
những yêu cầu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách
mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày
mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện
càng trong.
Cái ác luôn ẩn nấp trong mỗi người. Vì vậy, không được sao nhãng việc tu
dưỡng, mà phải rèn luyện suốt đời, bền bỉ. Đặc biệt trong thời kỳ hòa bình, khi
con người đã có ít quyền hạn, nếu không ý thức sâu sắc điều này, dễ bị tha hóa,
biến chất. Hồ Chí Minh so sánh: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như
lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại
không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ
mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất
dễ”12. Nếu không chú ý điều này, sa vào chủ nghĩa cá nhân thì có thể ngày hôm
qua có công với cách mạng, nhưng ngày hôm nay lại có tội với nhân dân.
Đạo đức cách
mạng là nhằm giải phóng và đem lại hạnh phúc, tự do cho con người, đó là đạo
đức của những con người được giải phóng. Vì vậy, tu dưỡng đạo đức phải gắn liền
với hoạt động thực tiễn, trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm
và trách nhiệm của mỗi người. Chỉ có như vậy thì việc tu dưỡng mới có kết quả
trong mọi môi trường, mọi mối quan hệ, mọi địa bàn, mọi hoàn cảnh.
Phần 3.Vận dụng
Hiện nay, nước
ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nền kinh tế
nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Cơ cấu xã hội
cũng đang trong quá trình biến đổi. Phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội diễn
ra phức tạp. Tình hình trên đã và đang tác động đến sinh viên về ý thức chính
trị, tâm trạng, đạo đức lối sống v.v… Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đang làm cho những tác động đó ngày
càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn.
Trải qua hơn 20
năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh vực đã tác động tích cực
đến sinh viên, tạo điều kiện cho họ tiến bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống, trình độ học vấn, khoa học công nghệ. Sinh viên đã kế tục xứng đáng sự
nghiệp cách mạng của Đảng. Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang
xuất hiện những nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ
thuật có đức, có tài trong độ tuổi sinh viên. Nét nổi bật của sinh viên nước ta
là ý chí vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê
nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm
giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.
Tuyệt đại bộ phận
sinh viên cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành
mạnh, biết vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Sinh viên sống có hoài bão, có
lý tưởng, có niềm tin ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ dám đấu tranh để
bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự công bằng, lên án cái xấu, cái ác
như tham nhũng, lãng phí… Những tấm gương cao đẹp hy sinh thân mình vì hạnh
phúc của nhân dân luôn được tuổi trẻ ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Điều đó
cho thấy, sinh viên nước ta ngày nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và
nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng
hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.
Tuy nhiên, mặt
trái của kinh tế thị trường, những thách thức của hội nhập kinh tế thế giới,
đặc biệt những âm mưu thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động
mạnh mẽ đến sinh viên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng,
sa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc , có thái độ
thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước. Một số sinh
viên mơ hồ về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Điều nguy hiểm hiện nay là
đã xuất hiện một bộ phận sinh viên tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, chạy
theo lợi ích vật chất, coi đồng tiền là trên hết. Cá biệt có một số sinh viên
phạm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Nhiều vụ án được khám phá trong
thời gian gần đây cho thấy tỷ lệ phạm tội trong sinh viên có chiều hướng gia
tăng.
Một trong các
nguyên nhân của những biểu hiện yếu kém nêu trên là do chúng ta chưa thật sự quan
tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ trước những biến đổi to lớn của
đất nước. Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống còn thiếu chiều sâu, chưa thiết
thực. Hình thức giáo dục đạo đức, lối sống còn sơ sài, chưa có sức hấp dẫn, lôi
cuốn sinh viên. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng, giữa nhà trường,
gia đình, xã hội còn nhiều hạn chế.
Từ thực trạng
trên đây, để thiết thực thực hiện cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” cần đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh
viên. Phát huy vai trò to lớn của sinh viên trong sự nghiệp cách mạng là việc
làm quan trọng và mang tính cấp thiết. Giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên
hiện nay là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình và toàn xã
hội với nội dung sâu rộng, hình thức phong phú đa dạng. Trước hết, tập trung
thực hiện có hiệu quả các giải pháp dưới dây:
Một là, thường xuyên chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho sinh viên.
Đây là giải pháp
cơ bản nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa cho
sinh viên, vì đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Trước hết cần quan tâm giáo
dục những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức và phong cách
Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng cho sinh viên thế giới quan, phương pháp luận đúng
đắn để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chú trọng giáo dục làm cho
sinh viên nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Nhà trường, gia đình, các tổ chức, đoàn thể, đặc
biệt Đoàn sinh viên Cộng sản Hồ Chí Minh phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng
cho sinh viên những tình cảm cao đẹp về tình yêu quê hương, đất nước: “mình vì
mọi người, mọi người vì mình”, “thương người như thể thương thân”, quên mình vì
nghĩa lớn… Từ đó hình thành cho họ lối sống trong sạch, lành mạnh, những hành
vi đạo đức trong sáng phù hợp với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và thời đại.
Hai là, phải kết hợp chặt
chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức,
lối sống cho sinh viên.
Đây là vấn đề có
ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực
lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên, hình
thành phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN.
Trước hết gia
đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là
môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho sinh viên. Gia đình là nơi mà tình
yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Do đó trong gia đình, ông bà, cha mẹ phải thật sự mẫu mực, làm
gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Hiện nay do sức ép
về lao động, việc làm khiến cho không ít các bậc làm cha, làm mẹ mải miết mưu
sinh hoặc chỉ lo làm giàu mà thiếu quan tâm việc giáo dục đạo đức cho con cái,
hoặc khoán trắng cho nhà trường và xã hội. Nhiều khi con cái vi phạm đạo đức
hoặc vi phạm pháp luật mà cha mẹ không hề hay biết, hoặc không biết cách ngăn
chặn, phòng ngừa. Để giáo dục đạo đức cho sinh viên, mỗi gia đình cần giữ gìn
đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho
các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp
cho thế hệ con cháu.
Nhà trường không
chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm
người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt
coi trọng. Một số nhà trường mới chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn,
tay nghề mà xem nhẹ hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học
sinh, sinh viên.
Sinh viên ngày
nay đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh
mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng. Sinh viên đã và đang chịu ảnh hưởng cả
mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy các tổ chức,
đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang cần quan tâm định hướng tạo môi trường
thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Cấp uỷ đảng, chính
quyền, mặt trận, đoàn thể, nhất là Đoàn sinh viên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ
chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, tập hợp sinh viên, rèn
luyện sinh viên theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kịp thời biểu dương, nhân
rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu
hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống của sinh viên
Ba là, phát huy vai trò
tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sinh viên
Sinh viên là
lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến
bộ. Phát huy vai trò của sinh viên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối
sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành. Đó còn
là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân. Trước hết phải hình
thành cho sinh viên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi
người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình.
Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời
phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho
sinh viên. Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên về vật chất,
tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh
lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để sinh viên rèn luyện đạo đức, lối sống. Mỗi
sinh viên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý
tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người
tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã
hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại
người. Sinh viên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc
sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác
Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”.
Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức
cách mạng cho sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là
góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ sinh viên vừa "hồng", vừa
"chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân
tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu.
Phần 4. Kết luận
TTHCM về đạo đức cách mạng là những quan
niệm, tư tưởng về 1 nền đạo đức mới (cách mạng và tiến bộ). Cùng với tư tưởng, tấm
gương đạo đức HCM mãi soi sáng cho nhân dân VN học tập và noi theo đặc biệt là
trong xây dựng dân tộc VN ngày càng văn minh như mong ước của Người.
VẤN ĐỀ 3: Bằng
lý luận và thực tiễn hãy phân tích và chứng minh luận điểm: ” Cách mạng giải phóng
dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi
trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm đó có nhiều luận điểm
hết sức sáng tạo, thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Những luận điểm
sáng tạo của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, bao quát nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh
tính đúng đắn và giá trị to lớn. Tiêu biểu trong đó là luận điểm” Cách
mạng giải phóng dân tộc cần phải chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở
chính quốc”.
Đây
là một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giải phóng dân
tộc với cách mạng vô sản:
-
Theo Mac- Ănghen:
cách mạng vô sản ở chính quốc là cần thiết và được thực hiện trước.
-
Theo Lê nin: Cách
mang ở thuộc địa phj thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc.
-
Theo Hồ Chí Minh: Cách mạng giải phóng dân tộc
phải được tiến hành chủ động , sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản ở chính quốc .
II.
LÝ LUẬN
1.Cách mạng
giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động , sáng tạo:
-Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc
địa:
Đây
là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu chi các nhà máy của nó, là nơi đầu tư,
tiêu thụ hàng hóa, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lãnh đạo của nó, và nhất là
tuyển những binh lính bản xứ cho đạo quân phản cách mạng của nó … nọc độc và
sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa .
- Khả năng lãnh đạo to lớn của nhân dân các dân tộc thuộc địa:
·
Chính
sách khai thác thuộc địa hết sức tàn bạo của CNĐQ là mâu thuẫn giữa nhân dân
thuộc địa với CNĐQ ngày càng gay gắt vì vậy mà tiêm năng cách mạng của các dân
tộc bị áp bức là rất to lớn.
·
Tinh
thần yêu nước và CNDT chân chính của các dân tộc thuộc địa là một sức mạnh tiềm
ẩn của CMGPDT. Sức mạnh đó nếu được chủ nghĩa Mác- Lênin giác ngộ và soi đường
thì CMGPDT ở các nước thuộc địa sẽ có một sức bật rất lớn và có khả năng chủ
động cao so với CMVS ở chính quốc.
·
Thuộc
địa là khâu yếu của CNTB nên CMGPDT ở thuộc địa dễ dàng giành chính quyền
hơn.
-
Chủ nghĩa dân tộc
là một động lực ở các nước đang đấu tranh giành độc lập.
-
Công cuộc giải
phóng dân tộc chỉ có thể thực hiên bằng sự nỗ lực tự giải phóng dân tộc:
§
Hồ Chí Minh vận
dụng những nguyên lý mà C.Mác đưa ra: " Sự giải phóng của giai cấp công
nhân chỉ có thể thực hiện được bởi giai cấp công nhân" để đưa đến khẳng
định: " Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ
lực của bản thân anh em".Vì thế nên công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc
địa phải do chính các dân tộc đó thực hiện.
2.Quan hệ của cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản
ở chính quốc:
-
Cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc:
·
"Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật
ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì
cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cáivòi
bị cắt
đứt lại sẽ mọc ra".
·
Hồ Chí
Minh nhận thấy sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là dựa trên sự bóc
lột giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân dân các dân tộc thuộc địa vì cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản phải kết hơp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các dân
tộc thuộc địa thì mới tiêu diệt được
triêt để , hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
-
Quan hệ
bình đẳng với cách mạng vô sản:
·
"Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới
và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa... nọc
độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc", nếu xem thường cách mạng ở thuộc địa tức là "muốn đánh chết rắn đằng đuôi".
-
Cách mạng
giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước:
§ Khi phân tích tình hình ở các nước thuộc địa,
Hồ Chí Minh đã nhận ra: thuộc địa chính à một mắt xích yếu của chủ nghĩ tư bản,
hơn nữa nhân dân các nước thuộc địa có một khả ngăng cách mạng cực kỳ to lớn họ
sẽ vùng dậy khi có thời cơ. Như vậy cách mạng giải phóng dân tộc có thể nổ ra
và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc vấu đó có thể giúp đỡ những
người an hem của mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
Subscribe to:
Posts (Atom)